Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết không đơn thuần là sự tập hợp lực lượng, mà là sự thống nhất về mục tiêu, lợi ích và khát vọng phát triển của toàn dân tộc. Người nhiều lần khẳng định đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công; đồng thời nhấn mạnh muốn xây dựng đất nước giàu mạnh phải dựa vào dân, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân và chăm lo lợi ích chính đáng của Nhân dân. Tư tưởng đó được Đảng ta kế thừa, phát triển và trở thành một trong những nguyên tắc chiến lược xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo cách mạng.
Bước vào giai đoạn phát triển mới, đất nước đứng trước yêu cầu phải tạo ra những đột phá về thể chế, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chất lượng nguồn nhân lực nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển nhanh, bền vững. Trong bối cảnh ấy, nhiều nguồn lực mới được hình thành, nhiều động lực tăng trưởng mới được xác lập. Tuy nhiên, kinh nghiệm phát triển của nhiều quốc gia cho thấy, khoa học - công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi được vận hành trong một môi trường chính trị ổn định; nguồn vốn chỉ được sử dụng hiệu quả khi xã hội có niềm tin; cải cách chỉ thành công khi nhận được sự đồng thuận của Nhân dân. Vì vậy, xét đến cùng, nguồn lực quan trọng nhất vẫn là con người và sức mạnh đoàn kết của toàn xã hội.
Đại đoàn kết toàn dân tộc vì thế cần được nhìn nhận không chỉ dưới góc độ chính trị, mà còn dưới góc độ phát triển. Đó là nguồn lực tạo dựng niềm tin xã hội; là điều kiện để huy động trí tuệ, nguồn vốn, khoa học - công nghệ và sức sáng tạo của các tầng lớp Nhân dân; là nền tảng để chuyển hóa ý chí chính trị thành hành động thống nhất của toàn xã hội. Khác với các nguồn lực vật chất có giới hạn, sức mạnh đại đoàn kết có thể được nhân lên khi quyền làm chủ của Nhân dân được bảo đảm, khi lợi ích của người dân gắn với lợi ích của quốc gia và khi khát vọng phát triển được khơi dậy bằng những chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân.
Đó cũng là lý do vì sao trong giai đoạn hiện nay, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là yêu cầu của công tác xây dựng Đảng hay công tác dân vận, mà đã trở thành yêu cầu của chiến lược phát triển quốc gia. Mỗi chủ trương phát triển, mỗi quyết sách về chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính, phát triển kinh tế tư nhân, xây dựng kết cấu hạ tầng hay bảo đảm an sinh xã hội đều chỉ có thể tạo ra hiệu quả bền vững khi được đặt trên nền tảng đồng thuận xã hội và niềm tin của Nhân dân.
Đối với thành phố Cần Thơ, yêu cầu đó càng có ý nghĩa đặc biệt. Với vị trí là trung tâm của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Cần Thơ không chỉ là đầu mối giao thương, giáo dục, y tế, khoa học - công nghệ và logistics của vùng, mà còn là địa phương có vai trò quan trọng trong liên kết vùng và thực hiện các chiến lược phát triển quốc gia. Điều đó đòi hỏi thành phố không chỉ phát huy lợi thế về hạ tầng, vị trí địa lý hay tiềm năng kinh tế, mà còn phải xây dựng được một nền tảng xã hội ổn định, đoàn kết, thống nhất và giàu khát vọng phát triển. Chính vì vậy, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là nhiệm vụ chính trị thường xuyên, mà còn là điều kiện tiên quyết để Cần Thơ hiện thực hóa mục tiêu trở thành cực tăng trưởng của quốc gia và trung tâm động lực phát triển của vùng Đồng bằng sông Cửu Long theo định hướng của Đảng bộ thành phố.
Từ góc nhìn đó, công tác dân tộc, công tác tôn giáo, công tác tuyên giáo và dân vận cần được đặt trong một chỉnh thể thống nhất của chiến lược phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Giá trị của các lĩnh vực công tác này không chỉ được đo bằng số lượng chương trình, mô hình hay phong trào được triển khai, mà quan trọng hơn là ở khả năng củng cố niềm tin của Nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân và chuyển hóa sức mạnh tinh thần thành nguồn lực phát triển. Đây cũng chính là cách tiếp cận mà thành phố Cần Thơ đã và đang vận dụng trong quá trình cụ thể hóa chủ trương của Đảng, tạo nền tảng chính trị - xã hội vững chắc để cùng cả nước bước vào giai đoạn phát triển mới.
I. Đại đoàn kết toàn dân tộc - nguồn lực nội sinh quyết định sự phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử của sức mạnh đoàn kết. Từ buổi đầu dựng nước và giữ nước đến các cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và công cuộc đổi mới, mỗi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều gắn liền với việc phát huy sức mạnh của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thực tiễn gần một thế kỷ qua đã khẳng định một quy luật có tính xuyên suốt: ở bất cứ giai đoạn nào, khi sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được phát huy thì đất nước vượt qua khó khăn, tạo nên những bước phát triển mới; ngược lại, nếu sức mạnh ấy bị chia rẽ hoặc suy giảm thì sự phát triển sẽ bị cản trở.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ dừng lại ở lời hiệu triệu "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công", mà còn được luận giải như một chiến lược phát triển đất nước. Theo Người, đoàn kết là mục tiêu, đồng thời là phương thức tập hợp mọi lực lượng yêu nước; là cơ sở để phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; là điều kiện để quy tụ trí tuệ, sức sáng tạo và nguồn lực của toàn xã hội vì lợi ích của quốc gia, dân tộc. Chính vì vậy, đại đoàn kết không phải là sự cộng gộp cơ học giữa các lực lượng xã hội, mà là sự thống nhất về mục tiêu, lợi ích và khát vọng phát triển trên nền tảng lợi ích quốc gia - dân tộc.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã kế thừa và phát triển tư tưởng đó thành quan điểm nhất quán trong mọi thời kỳ cách mạng. Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững, dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đại đoàn kết toàn dân tộc càng được khẳng định là nguồn lực nội sinh đặc biệt quan trọng. Nếu khoa học - công nghệ tạo ra động lực phát triển, thể chế tạo ra môi trường phát triển thì đại đoàn kết toàn dân tộc chính là nền tảng tạo nên sự đồng thuận xã hội để các động lực ấy được phát huy hiệu quả.
Đây là điểm cần được nhìn nhận dưới góc độ khoa học chính trị. Một quốc gia có thể sở hữu nguồn tài nguyên phong phú, có nguồn vốn lớn hoặc có trình độ khoa học - công nghệ cao, nhưng nếu xã hội thiếu niềm tin, thiếu đồng thuận và thiếu sự gắn kết giữa Nhà nước với Nhân dân thì những nguồn lực đó khó có thể chuyển hóa thành sức mạnh phát triển. Ngược lại, khi lòng dân đồng thuận, niềm tin được củng cố và khát vọng cống hiến được khơi dậy, sức mạnh của toàn xã hội sẽ được huy động, tạo thành động lực to lớn cho phát triển kinh tế, giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh và nâng cao vị thế quốc gia.
Như vậy, xét từ bản chất, đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là giá trị chính trị hay văn hóa, mà còn là một loại "vốn xã hội" đặc biệt của quốc gia. Đó là nguồn vốn được hình thành từ niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước; từ sự đồng thuận trong xã hội; từ tinh thần trách nhiệm, ý thức công dân và khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Khác với các nguồn lực vật chất có thể hao mòn theo thời gian, vốn xã hội được bồi đắp thông qua thực tiễn lãnh đạo đúng đắn của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước và sự tham gia tích cực của Nhân dân vào quá trình phát triển.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số, nội hàm của đại đoàn kết toàn dân tộc cũng được mở rộng. Đó không chỉ là sự đoàn kết giữa các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo hay cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, mà còn là khả năng kết nối các nguồn lực tri thức, công nghệ, đổi mới sáng tạo và văn hóa để tạo nên sức mạnh tổng hợp của quốc gia. Vì vậy, phát huy đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn hiện nay cần được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với phát triển khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, xây dựng nền kinh tế tri thức và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Đối với thành phố Cần Thơ, yêu cầu đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Là đô thị trung tâm của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Cần Thơ không chỉ giữ vai trò đầu tàu tăng trưởng của vùng mà còn là nơi hội tụ nhiều yếu tố đặc thù về dân cư, văn hóa, dân tộc và tôn giáo. Đây là lợi thế để xây dựng môi trường xã hội ổn định, phát huy sức mạnh đoàn kết, tạo sự đồng thuận trong quá trình phát triển. Đồng thời, đây cũng là yêu cầu đặt ra đối với Đảng bộ thành phố trong việc cụ thể hóa chủ trương của Trung ương thành những chính sách phù hợp với điều kiện thực tiễn, nhằm khơi dậy cao nhất tiềm năng con người, sức sáng tạo của xã hội và khát vọng phát triển của mỗi người dân.
Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Cần Thơ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 đã xác định rõ quan điểm phát huy tinh thần yêu nước, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, ý chí tự lực, tự cường; lấy con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực phát triển; phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của thành phố, kết hợp chặt chẽ với khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để xây dựng Cần Thơ trở thành cực tăng trưởng của quốc gia và trung tâm động lực của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Đây không chỉ là mục tiêu phát triển của địa phương mà còn là sự cụ thể hóa sinh động đường lối của Đảng trong điều kiện mới.
Từ đó có thể khẳng định rằng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc không phải là nhiệm vụ riêng của công tác dân vận, công tác tuyên giáo, công tác dân tộc hay công tác tôn giáo, mà là yêu cầu xuyên suốt của toàn bộ quá trình lãnh đạo, quản lý và phát triển. Mỗi chủ trương, mỗi chính sách chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi tạo được sự đồng thuận trong xã hội; mỗi thành tựu phát triển chỉ bền vững khi được xây dựng trên nền tảng niềm tin của Nhân dân; và mỗi bước tiến của địa phương đều phải bắt đầu từ việc phát huy đầy đủ vai trò chủ thể của Nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
II. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc ở thành phố Cần Thơ – Từ chủ trương của Đảng đến thực tiễn sinh động
Giá trị của một chủ trương không chỉ được khẳng định ở tính đúng đắn về lý luận mà còn được kiểm nghiệm bằng hiệu quả trong thực tiễn. Đối với chủ trương phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực tiễn thành phố Cần Thơ những năm qua là minh chứng sinh động cho thấy khi đường lối của Đảng được cụ thể hóa bằng những quyết sách phù hợp với điều kiện địa phương, được tổ chức thực hiện đồng bộ và nhận được sự đồng thuận của Nhân dân thì sức mạnh đoàn kết không chỉ góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội mà còn chuyển hóa thành nguồn lực thúc đẩy phát triển.
Là đô thị trung tâm của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Cần Thơ hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là địa phương có cơ cấu dân cư đa dạng, nơi đồng bào các dân tộc Kinh, Khmer, Hoa, Chăm cùng sinh sống; nhiều tôn giáo hoạt động ổn định, đồng hành cùng dân tộc; đồng thời là trung tâm kinh tế, giáo dục, khoa học - công nghệ, y tế và dịch vụ của vùng. Chính sự đa dạng về văn hóa, tín ngưỡng và thành phần xã hội vừa tạo nên bản sắc riêng của Cần Thơ, vừa đặt ra yêu cầu phải không ngừng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc như một điều kiện tiên quyết để bảo đảm sự phát triển hài hòa, ổn định và bền vững.
Nhận thức rõ điều đó, Đảng bộ thành phố luôn xác định phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược, gắn chặt với công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và phát triển kinh tế - xã hội. Quan điểm ấy được thể hiện xuyên suốt trong các nghị quyết, chương trình, kế hoạch của Thành ủy và được cụ thể hóa trong Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Cần Thơ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025–2030 với yêu cầu phát huy tinh thần yêu nước, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, ý chí tự lực, tự cường; lấy con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực phát triển; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh và nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân.
Điểm nổi bật trong quá trình triển khai là Cần Thơ không xem đại đoàn kết toàn dân tộc là một khẩu hiệu mang tính vận động, mà được hiện thực hóa thông qua hệ thống chính sách phát triển bao trùm, bảo đảm mọi người dân đều có điều kiện tham gia và thụ hưởng thành quả phát triển. Trong cách tiếp cận đó, phát triển kinh tế luôn gắn với bảo đảm an sinh xã hội; tăng trưởng đi đôi với nâng cao chất lượng cuộc sống; đầu tư kết cấu hạ tầng đồng thời quan tâm phát triển giáo dục, y tế, văn hóa; chuyển đổi số gắn với nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ công của người dân. Chính sự kết hợp hài hòa giữa mục tiêu phát triển và mục tiêu công bằng xã hội đã tạo nên nền tảng vững chắc để củng cố niềm tin của Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của chính quyền.
Một điểm đáng chú ý là trong điều kiện hội nhập quốc tế và chuyển đổi số, Cần Thơ đã từng bước đổi mới phương thức phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc theo hướng mở rộng sự tham gia của các chủ thể trong xã hội. Bên cạnh vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, thành phố chú trọng phát huy vai trò của đội ngũ trí thức, doanh nhân, văn nghệ sĩ, nhà khoa học, chức sắc, chức việc các tôn giáo, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số và các cá nhân tiêu biểu trong cộng đồng. Đây không chỉ là lực lượng có ảnh hưởng xã hội sâu rộng mà còn là cầu nối quan trọng giữa Đảng, chính quyền với Nhân dân, góp phần lan tỏa tinh thần đoàn kết, đồng thuận và trách nhiệm công dân trong thực hiện các mục tiêu phát triển.
Từ góc độ đó có thể thấy, công tác dân tộc và công tác tôn giáo ở Cần Thơ không chỉ dừng lại ở việc thực hiện đúng, đủ các chính sách của Đảng và Nhà nước. Giá trị cốt lõi của hai lĩnh vực công tác này là góp phần xây dựng niềm tin chính trị, tăng cường sự gắn bó giữa các dân tộc, giữa đồng bào có đạo và không có đạo, giữa Nhân dân với Đảng và Nhà nước. Khi mọi người dân đều được tôn trọng, được tạo điều kiện phát triển, được tham gia vào quá trình hoạch định và thực hiện chính sách, thì khối đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ được củng cố về hình thức mà còn được bồi đắp từ chính sự công bằng, bình đẳng và đồng thuận trong xã hội.
Đó cũng là cơ sở để Cần Thơ giữ vững ổn định chính trị, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế, thu hút đầu tư và mở rộng hợp tác quốc tế. Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các địa phương về nguồn lực đầu tư và chất lượng môi trường phát triển, một địa phương có nền tảng chính trị - xã hội ổn định, có niềm tin xã hội cao và có khối đại đoàn kết toàn dân tộc bền chặt sẽ có lợi thế quan trọng trong việc thu hút nguồn lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh. Có thể khẳng định, đây chính là giá trị phát triển của đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh mới.
III. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong kỷ nguyên phát triển mới – Những yêu cầu đặt ra đối với thành phố Cần Thơ
Sự phát triển của đất nước đang bước sang một giai đoạn mới với những yêu cầu cao hơn về chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh và hiệu quả quản trị quốc gia. Trong bối cảnh đó, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là những động lực quan trọng thúc đẩy phát triển. Tuy nhiên, kinh nghiệm của nhiều quốc gia cũng như thực tiễn Việt Nam cho thấy, sự phát triển không chỉ được quyết định bởi trình độ công nghệ hay quy mô nguồn lực đầu tư mà còn phụ thuộc vào mức độ đồng thuận xã hội, niềm tin của Nhân dân và khả năng huy động sức mạnh của toàn xã hội cùng hướng tới mục tiêu chung. Chính vì vậy, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là yêu cầu chính trị mà còn là yêu cầu phát triển.
Điểm khác biệt của giai đoạn hiện nay so với các thời kỳ trước là nội hàm của đại đoàn kết toàn dân tộc đã được mở rộng. Nếu trước đây trọng tâm là tập hợp lực lượng để đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước sau chiến tranh, thì trong điều kiện phát triển mới, đại đoàn kết phải hướng tới mục tiêu khơi dậy mọi nguồn lực sáng tạo của con người, tạo dựng niềm tin xã hội, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động và xây dựng văn hóa phát triển. Nói cách khác, đại đoàn kết không chỉ nhằm giữ vững ổn định chính trị mà còn phải trực tiếp tạo ra những giá trị mới cho sự phát triển.
Đối với thành phố Cần Thơ, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết khi thành phố được xác định là trung tâm động lực của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Một trung tâm vùng không chỉ được đo bằng quy mô kinh tế hay kết cấu hạ tầng, mà còn bằng khả năng quy tụ các nguồn lực phát triển của cả vùng, kết nối lợi ích giữa các địa phương và tạo dựng môi trường xã hội ổn định, cởi mở, sáng tạo. Vì vậy, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Cần Thơ không chỉ phục vụ mục tiêu phát triển của địa phương mà còn góp phần tạo sức lan tỏa đối với toàn vùng.
Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, phương thức xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc cũng cần được đổi mới. Không gian mạng đã trở thành một không gian xã hội đặc biệt, nơi thông tin được lan truyền với tốc độ rất nhanh, vừa tạo điều kiện thuận lợi để phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng, vừa đặt ra nhiều thách thức trong công tác định hướng dư luận xã hội. Những thông tin sai lệch, xuyên tạc, kích động chia rẽ dân tộc, tôn giáo hay phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng nếu không được nhận diện và xử lý kịp thời sẽ tác động trực tiếp đến niềm tin xã hội và sự đồng thuận trong Nhân dân.
Trong điều kiện đó, công tác tuyên giáo và dân vận cần được đổi mới theo hướng chủ động, hiện đại và lấy người dân làm trung tâm. Không chỉ tuyên truyền để Nhân dân biết, mà quan trọng hơn là tạo điều kiện để Nhân dân hiểu, tin và đồng hành. Việc ứng dụng công nghệ số trong nắm bắt dư luận xã hội, đối thoại với Nhân dân, tiếp nhận phản ánh, kiến nghị và cung cấp thông tin chính thống cần được xem là một nội dung quan trọng của quá trình xây dựng "thế trận lòng dân" trong thời đại số. Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên cần nâng cao năng lực truyền thông, khả năng tương tác trên môi trường số và ý thức nêu gương, bởi trong thời đại số, một hành động đúng cũng có sức lan tỏa không kém một bài tuyên truyền.
Cùng với đó, công tác dân tộc và công tác tôn giáo cần tiếp tục được nhìn nhận từ góc độ phát triển. Thực hiện tốt chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo không chỉ là bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đồng bào các dân tộc và các tổ chức tôn giáo, mà còn góp phần củng cố niềm tin, tăng cường sự gắn kết xã hội và phát huy trách nhiệm công dân trong xây dựng, phát triển địa phương. Đồng bào các dân tộc, các chức sắc, chức việc, tín đồ các tôn giáo không chỉ là đối tượng được vận động mà còn là chủ thể của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là lực lượng quan trọng tham gia phát triển kinh tế, xây dựng đời sống văn hóa, bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường và giữ gìn ổn định chính trị - xã hội.
Đối với Cần Thơ, nơi hội tụ nhiều giá trị văn hóa của vùng đất Tây Nam Bộ, việc phát huy vai trò của đồng bào các dân tộc và các tôn giáo còn góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa, tăng cường giao lưu, hiểu biết và gắn kết cộng đồng. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, bản sắc văn hóa và sự gắn kết xã hội chính là những yếu tố tạo nên sức hấp dẫn và sức cạnh tranh của một đô thị trung tâm. Vì vậy, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là yêu cầu chính trị mà còn là một bộ phận của chiến lược phát triển văn hóa và phát triển con người.
Có thể khẳng định rằng, bước vào kỷ nguyên phát triển mới, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc cần được phát huy trên nền tảng của tư duy phát triển mới, phương thức quản trị hiện đại và sự tham gia tích cực của mọi tầng lớp Nhân dân. Đó không chỉ là sự kế thừa truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam mà còn là điều kiện để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc và xây dựng thành phố Cần Thơ trở thành đô thị văn minh, hiện đại, trung tâm động lực phát triển của vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
IV. Khơi dậy khát vọng phát triển, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc – động lực đưa thành phố Cần Thơ cùng cả nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới
Lịch sử phát triển của mỗi quốc gia cho thấy, những bước ngoặt lớn không chỉ được tạo nên bởi nguồn lực vật chất hay những thành tựu khoa học - công nghệ, mà trước hết bắt nguồn từ sự thống nhất về ý chí, khát vọng và hành động của toàn xã hội. Đối với Việt Nam, sức mạnh ấy được kết tinh trong truyền thống yêu nước, tinh thần tự lực, tự cường và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử. Chính truyền thống đó đã trở thành điểm tựa để dân tộc vượt qua chiến tranh, đói nghèo và những biến động của thời cuộc, đồng thời tiếp tục là nền tảng tinh thần vững chắc trong hành trình xây dựng đất nước phát triển nhanh và bền vững.
Ngày nay, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu xây dựng nền kinh tế hiện đại, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế sâu rộng, yêu cầu phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ dừng lại ở việc giữ gìn sự ổn định chính trị - xã hội mà phải hướng tới mục tiêu cao hơn là khơi dậy khát vọng phát triển của mỗi người dân, mỗi cộng đồng và toàn dân tộc. Đây là điểm khác biệt căn bản của tư duy phát triển trong giai đoạn hiện nay. Nếu trước đây, đại đoàn kết chủ yếu nhằm huy động sức người, sức của cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và khắc phục hậu quả chiến tranh, thì trong bối cảnh mới, đại đoàn kết phải trở thành động lực để phát huy trí tuệ, sức sáng tạo và tinh thần cống hiến của toàn xã hội.
Đối với thành phố Cần Thơ, yêu cầu đó càng có ý nghĩa đặc biệt khi thành phố được xác định là trung tâm động lực phát triển của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Một trung tâm vùng không chỉ được đo bằng quy mô GRDP, năng lực thu hút đầu tư hay hệ thống kết cấu hạ tầng, mà còn được khẳng định bằng khả năng tạo dựng niềm tin xã hội, quy tụ các nguồn lực phát triển và lan tỏa những giá trị tích cực đến toàn vùng. Muốn thực hiện được sứ mệnh đó, Cần Thơ cần tiếp tục phát huy mạnh mẽ hơn nữa sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đây là nền tảng để kết nối nguồn lực Nhà nước với nguồn lực xã hội, kết nối ý chí của Đảng với khát vọng của Nhân dân, kết nối lợi ích của địa phương với mục tiêu phát triển chung của đất nước.
Trong tiến trình ấy, mỗi chủ trương phát triển của thành phố cần hướng đến mục tiêu phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân. Phát triển không chỉ được hiểu là tăng trưởng về quy mô kinh tế mà còn phải được phản ánh bằng chất lượng cuộc sống, mức độ hài lòng của người dân, sự công bằng trong tiếp cận các cơ hội phát triển và khả năng tham gia của người dân vào quá trình hoạch định, thực thi và giám sát chính sách công. Khi người dân thực sự trở thành trung tâm của quá trình phát triển, khối đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ không chỉ được củng cố bằng tình cảm hay truyền thống mà còn được bồi đắp bằng lợi ích hài hòa, niềm tin và trách nhiệm công dân.
Để hiện thực hóa mục tiêu đó, công tác tuyên giáo và dân vận cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ theo tinh thần "lấy dân làm gốc", lấy sự đồng thuận xã hội làm thước đo hiệu quả và lấy chuyển đổi số làm công cụ nâng cao chất lượng hoạt động. Trong môi trường truyền thông số, nhiệm vụ của công tác tuyên giáo không chỉ là truyền tải thông tin chính thống mà còn phải chủ động tạo dựng không gian đối thoại, lan tỏa những giá trị tích cực, khơi dậy khát vọng cống hiến và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng. Đồng thời, công tác dân vận cần được thực hiện bằng những hành động cụ thể, thiết thực, gần dân, sát dân, kịp thời giải quyết những vấn đề phát sinh từ cơ sở, qua đó tạo dựng mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với Nhân dân.
Cùng với đó, công tác dân tộc và công tác tôn giáo cần tiếp tục được triển khai trên cơ sở tôn trọng sự đa dạng văn hóa, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các dân tộc và các tôn giáo trong xây dựng đời sống xã hội. Đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo, các chức sắc, chức việc, người có uy tín không chỉ là đối tượng của chính sách mà còn là những chủ thể quan trọng trong sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Phát huy vai trò của các lực lượng này chính là phát huy sức mạnh của cộng đồng, góp phần củng cố nền tảng chính trị - xã hội và tạo động lực cho phát triển bền vững.
Đặc biệt, trong điều kiện chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, cần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên cả không gian thực và không gian số. Điều đó đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải trở thành hạt nhân lan tỏa thông tin tích cực, mỗi cơ quan, đơn vị phải trở thành điểm tựa của niềm tin xã hội, mỗi người dân phải là một chủ thể tích cực trong xây dựng môi trường văn hóa số lành mạnh, nhân văn. Khi niềm tin được củng cố, sự đồng thuận được mở rộng và khát vọng phát triển được khơi dậy, sức mạnh đại đoàn kết sẽ được nhân lên, trở thành nguồn lực nội sinh to lớn để Cần Thơ cùng cả nước thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển trong giai đoạn mới.
Đại đoàn kết toàn dân tộc là giá trị bền vững của dân tộc Việt Nam, là tư tưởng chiến lược xuyên suốt trong đường lối lãnh đạo của Đảng và là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, giá trị ấy càng được khẳng định sâu sắc khi trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng để khơi dậy khát vọng phát triển, phát huy sức mạnh con người Việt Nam và tạo dựng nền tảng xã hội cho đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.
Đối với thành phố Cần Thơ, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ nhằm giữ vững ổn định chính trị - xã hội mà còn trực tiếp tạo dựng động lực để hiện thực hóa khát vọng trở thành cực tăng trưởng của quốc gia, trung tâm động lực của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Trên nền tảng các quan điểm của Đảng, cùng với quyết tâm chính trị của Đảng bộ, sự điều hành hiệu quả của chính quyền và sự đồng lòng của các tầng lớp Nhân dân, Cần Thơ có đầy đủ điều kiện để chuyển hóa sức mạnh đại đoàn kết thành lợi thế cạnh tranh, thành năng lực phát triển và thành những thành tựu cụ thể, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh và hạnh phúc.
Ths Nguyễn Khánh Duy