
Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, tháng 7-2026. Ảnh: TTXVN
Đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là con đường phát triển khách quan, hợp quy luật và hợp lòng dân
Kể từ khi được thành lập vào năm 1930 cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xây dựng và thông qua 5 văn kiện mang tầm vóc của Cương lĩnh bao gồm Cương lĩnh chính trị đầu tiên (tháng 2-1930), Luận cương chính trị (tháng 10-1930), Chính cương Đảng Lao động Việt Nam (tháng 2-1951), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011). Mỗi văn kiện ra đời trong bối cảnh lịch sử khác nhau song đều chứa đựng tư tưởng xuyên suốt, đó chính là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đồng thời với xây dựng lý luận về mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, mang đặc điểm, bản sắc của dân tộc Việt Nam.
Quan điểm gắn độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam bắt nguồn từ cơ sở lý luận là học thuyết Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội và mối quan hệ giữa độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Quan điểm của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là một quá trình phát triển liên tục trong nhận thức về vấn đề dân tộc, từ không gian nghiên cứu là vấn đề dân tộc ở các nước châu Âu là chủ yếu (như thời đại của Mác, Ăngghen) đến không gian các nước châu Âu, Liên Xô và một phần thuộc địa (như thời đại Lê-nin) và không gian các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc là chủ yếu (như thời đại Hồ Chí Minh). Bản Sơ thảo những luận cương của V.I. Lênin về vấn đề dân tộc và dân tộc thuộc địa đánh dấu một sự chuyển biến về chất trong vai trò của Quốc tế Cộng sản đối với cách mạng thế giới, cũng là bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.
Chính trên cơ sở kế thừa và phát triển sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lê-nin về vấn đề dân tộc vào hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam đã đưa đến những luận điểm hết sức sáng tạo trong quan điểm Hồ Chí Minh như: Độc lập, tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc; độc lập dân tộc phải gắn liền tự do, cơm no, áo ấm và hạnh phúc của nhân dân; độc lập dân tộc phải là nền độc lập thật sự, hoàn toàn và triệt để; độc lập dân tộc gắn liền với thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản.
Đi lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu khách quan của cách mạng Việt Nam sau khi nước nhà giành được độc lập. Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác đã chỉ ra rằng: “Sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên”(1). Các hình thái kinh tế - xã hội vận động, phát triển theo các quy luật khách quan, không theo ý chí chủ quan của con người, V.I. Lênin viết: “Mác coi sự vận động xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên chịu sự chi phối của những quy luật không những không phụ thuộc vào ý chí, ý thức và ý định của con người, mà trái lại, còn quyết định ý chí, ý thức và ý định của con người”(2). Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định, cách mạng nước ta sẽ trải qua 2 giai đoạn: cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Bởi vì “Nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc”(3), là làm sao cho dân giàu, nước mạnh.
Con đường, mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội với những đặc trưng từng bước được hoàn chỉnh qua các văn kiện có tính chất Cương lĩnh
Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên (tháng 2-1930)
Bằng sự nhạy cảm chính trị và tầm nhìn xa rộng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy yêu cầu bức thiết của xã hội Việt Nam lúc này là phải tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc để giành độc lập dân tộc và xác định con đường phát triển của dân tộc. Trên cơ sở nắm bắt những đặc điểm của thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội Việt Nam, từ thực tiễn phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân Việt Nam kết hợp với việc vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lê-nin, kinh nghiệm của cách mạng các nước Trung Quốc, Liên Xô… Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định “chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”(4).
Xác định rõ chủ trương “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” nghĩa là làm cách mạng dân tộc dân chủ tiến lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Chủ trương đó là cơ sở xác lập đường lối chiến lược cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, quy định giai đoạn đầu của tiến trình cách mạng Việt Nam là cuộc đấu tranh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân với hai nhiệm vụ chiến lược là chống đế quốc và phong kiến, nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ đặt lên trước hết, trên hết; nhiệm vụ dân chủ là nhiệm vụ phải được thực hiện đồng thời, song tiến hành từng bước, căn cứ theo tiến trình giải phóng dân tộc và nhằm hỗ trợ nhiệm vụ giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản. Việc xác định đường lối chiến lược cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam là tiến hành cuộc “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”(5) trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã cho thấy sự hoạch định chiến lược mang tính biện chứng và khách quan của Nguyễn Ái Quốc về con đường phát triển của dân tộc Việt Nam, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử - gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Trong đó, độc lập dân tộc trở thành nội dung cốt lõi của bản Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốc khởi soạn, phản ánh khát vọng chính đáng của quảng đại quần chúng nhân dân Việt Nam, là tiền đề để tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản sau khi nước Việt Nam hoàn toàn độc lập.
Thể hiện trong Luận cương chính trị (tháng 10-1930)
Luận cương chính trị tháng 10 năm 1930 của Đảng do đồng chí Trần Phú soạn thảo, có ý nghĩa như một bản cương lĩnh chính trị, được kết cấu chia thành ba phần: Phần I. Tình hình thế giới và cách mạng Đông Dương (bao gồm mục 1 đề cập đến tình hình thế giới sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất 1914 - 1918); Phần II. Những đặc điểm về tình hình ở Đông Dương (bao gồm các mục 2. Xứ Đông Dương; 3. Mâu thuẫn về kinh tế; 4. Mâu thuẫn giai cấp); Phần III. Tính chất và nhiệm vụ của cách mạng Đông Dương (bao gồm từ mục 5 đến hết, bàn về các vấn đề cách mạng của Đông Dương).
Quan điểm về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản được gợi mở trong luận điểm bàn về con đường, phương hướng chiến lược của cách mạng Đông Dương được thể hiện ngay trong mục 5 của phần III: “Trong lúc đầu, cuộc cách mạng Đông Dương sẽ là một cuộc cách mạng tư sản dân quyền… có tính chất thổ địa và phản đế… Tư sản dân quyền cách mạng là thời kỳ dự bị để làm xã hội cách mạng… Tư sản dân quyền cách mạng được thắng lợi, chánh phủ công nông dựng lên rồi… Lúc đó sự tranh đấu sẽ thêm sâu, thêm rộng, làm cho cách mạng tư sản dân quyền sẽ tiến lên con đường cách mạng vô sản… phát triển bỏ qua thời kỳ tư bản mà tranh đấu thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa”(6).
Chính cương Đảng Lao động Việt Nam (năm 1951) - bước đầu hình thành nhận thức lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam được Đại hội II thông qua đã chỉ rõ trong hoàn cảnh lúc bấy giờ: “Nhiệm vụ cơ bản… của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, giành độc lập và thống nhất thật sự cho dân tộc, xoá bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội”(7). Ba nhiệm vụ đó quan hệ khăng khít với nhau song trước mắt phải tập trung lực lượng hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Cuộc cách mạng nhằm đánh đổ đế quốc và phong kiến, do nhân dân làm động lực và giai cấp công nhân lãnh đạo, là một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và tiến triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa. Chính cương Đảng Lao động Việt Nam đã khẳng định con đường tiến lên của cách mạng Việt Nam: Con đường tất yếu của nó tiến tới chủ nghĩa xã hội, quyết không thể có một con đường nào khác.
Như vậy, phải đến năm 1951, trong Chính cương Đảng Lao động Việt Nam, lần đầu tiên Đảng mới thể hiện được nhận thức lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đánh dấu một bước trong nhận thức của Đảng về con đường, phương hướng tiến lên chủ nghĩa xã hội của cách mạng Việt Nam. Nếu như trong Cương lĩnh đầu tiên, con đường đó mới dừng ở việc xác định phương hướng chiến lược “chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”, trong Luận cương Chính trị (tháng 10-1930) mới xác định sẽ có một thời kỳ “bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”, thì đến Chính cương Đảng Lao động Việt Nam, con đường cách mạng Việt Nam trải qua ba giai đoạn: 1- Giai đoạn tiêu diệt đế quốc xâm lược, giải phóng dân tộc, củng cố Nhà nước dân chủ nhân dân; 2 - Giai đoạn xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, triệt để thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng”, hoàn chỉnh chế độ dân chủ nhân dân; 3 - Giai đoạn làm xong nhiệm vụ dân chủ nhân dân, tạo đầy đủ điều kiện để tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong đó, giai đoạn thứ ba là thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với nhiệm vụ xây dựng, củng cố và hoàn thiện chế độ dân chủ nhân dân. Trong đó, Đảng nhận định với điều kiện Việt Nam, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp khó khăn, lâu dài. “Không thể giạng chân ra mà bước một bước khổng lồ để đến ngay chủ nghĩa xã hội. Phải bước nhiều bước, chia thành nhiều độ mà đi”(8).
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) - sự hình thành nhận thức toàn diện của Đảng về mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (năm 1991) của Đảng diễn ra trong bối cảnh đặc biệt khi công cuộc đổi mới toàn diện ở Việt Nam diễn ra được 5 năm với những kết quả bước đầu. Tuy nhiên, những khó khăn do sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu đã đặt Việt Nam đứng trước quyết định lịch sử, đó là kiên định với con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội hay đi theo mô hình phát triển khác. Trên cơ sở vận dụng lý luận học thuyết Mác, tổng kết những kinh nghiệm thành công và thất bại trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước, phân tích đặc điểm của cách mạng Việt Nam và thế giới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã một lần nữa khẳng định con đường tất yếu của dân tộc Việt Nam vẫn là kiên định tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội thông qua việc ban hành Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (còn gọi là Cương lĩnh năm 1991). Cương lĩnh nhấn mạnh: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc gay go, phức tạp của nhân dân các nước vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chủ nghĩa xã hội hiện đứng trước nhiều khó khăn, thử thách. Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”(9).
Cương lĩnh chỉ rõ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một quá trình lâu dài, trải qua nhiều chặng đường với những định hướng lớn về chính sách kinh tế, xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại. “Mục tiêu tổng quát phải đạt tới, khi kết thúc thời kỳ quá độ là xây dựng xong về cơ bản những cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội, với kiến trúc thượng tầng về chính trị và tư tưởng, văn hóa phù hợp, làm cho nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh”(10).
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011) - bước phát triển trong lý luận mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Đại hội XI của Đảng diễn ra trong một bối cảnh lịch sử quốc tế và trong nước có những “biến đổi to lớn và sâu sắc”. Đó là “những tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến sự phát triển của nhiều nước”. Tuy nhiên, sự kiên định với con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội tiếp tục được Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định tại Đại hội XI: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”(11). Nội dung của Cương lĩnh năm 2011 phản ánh những nhận thức khoa học của Đảng về thời kỳ quá độ, mục tiêu phấn đấu, về mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa, về những phương hướng lớn nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu đề ra.
Thứ nhất, về mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Cương lĩnh năm 2011 vừa có sự kế thừa những đặc trưng đúng đắn, phù hợp, vẹn nguyên giá trị của bản Cương lĩnh 1991, đồng thời, mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong Cương lĩnh năm 2011 có một số điều chỉnh quan trọng bao gồm cả bổ sung mới và điều chỉnh một số thuật ngữ diễn đạt các đặc trưng khác cho phù hợp với bối cảnh thực tiễn của sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam.
Cụ thể, Cương lĩnh năm 2011 đã bổ sung thêm hai đặc trưng hoàn toàn mới trong mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa bao gồm đặc trưng thứ nhất “là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phản ánh mục tiêu bao trùm, tổng quát mà toàn Đảng và toàn dân tộc Việt Nam đang phấn đấu xây dựng và đặc trưng thứ bảy phản ánh đặc trưng về nhà nước “Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo”(12). Ở đây, không phải đến Đại hội XI đặc trưng mục tiêu tổng quát của mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa mới được đưa ra mà đã được đề cập đến từ Đại hội Đảng lần thứ X (năm 2006) với mục tiêu xây dựng một xã hội “Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”(13). Tuy nhiên, ở Cương lĩnh năm 2011, Đảng nhận thấy vai trò quan trọng của dân chủ trong xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền “là chủ và làm chủ” của nhân dân nên đã chuyển mục tiêu “dân chủ” lên trước mục tiêu “công bằng”.
Thứ hai, nhận thức về thời kỳ quá độ và mục tiêu phấn đấu, Cương lĩnh năm 2011 đã nêu rõ đặc điểm của thời kỳ quá độ và mục tiêu tổng quát mà Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam phấn đấu đạt được. “Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh quốc tế có những biến đổi to lớn và sâu sắc... Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử... Đây là một quá trình cách mạng sâu sắc, triệt để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước phát triển, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen”(14). Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình, Cương lĩnh năm 2011 xác định mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là “xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc. Mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI là xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(15).
Thứ ba, những phương hướng lớn nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu. Cương lĩnh năm 2011 đã có sự kế thừa, bổ sung và sắp xếp lại theo hướng hoàn thiện hơn 7 phương hướng đề xuất trong Cương lĩnh năm 1991, chỉ rõ 8 phương hướng cơ bản:
(1) Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường.
(2) Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
(3) Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
(4) Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
(5) Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.
(6) Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất.
(7) Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
(8) Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
Đảng ta xác định 3 trụ cột: Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ, vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho phát triển đất nước; kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là công cụ, phương tiện giải phóng sức sản xuất, phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội Việt Nam; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là hình thức tối ưu bảo đảm quyền lực nhà nước của nhân dân và thực thi, bảo vệ quyền dân chủ của nhân dân.
Qua 5 văn kiện mang tính chất Cương lĩnh chính trị ra đời trong các hoàn cảnh khác nhau nhưng đều cho thấy sự chủ động trong năng lực tư duy, năng lực ứng phó, năng lực hoạch định mục tiêu và lãnh đạo tổ chức thực hiện của Đảng Cộng sản Việt Nam trong những bối cảnh hết sức khó khăn, phức tạp. Chỉ trong vòng 20 năm từ năm 1991 đến năm 2011, Đảng Cộng sản Việt Nam, trên cơ sở phân tích, đánh giá đúng đắn tình hình thế giới và trong nước, đã xây dựng và ban hành hai văn kiện Cương lĩnh, bàn chuyên sâu về mô hình, phương hướng xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991 và Cương lĩnh năm 2011) đã định hình rõ nét mô hình thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở đất nước ta trong những năm đổi mới, hội nhập, không chỉ góp phần định hướng chiến lược con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam mà còn góp phần quan trọng trong việc hình thành lý luận cơ bản về đường lối đổi mới, về mô hình, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam với những điểm sáng tạo riêng có, phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam, góp phần bổ sung vào lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin.
PGS, TS Phạm Việt Thắng -
PGS, TS Nguyễn Thị Thanh Tùng
N.H theo https://www.tapchicongsan.org.vn
----------------------------------
(1) C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, t. 33, tr. 21
(2) V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1974, t. 1. tr. 200
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 10, tr. 17
(4) (5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 1 - 2
(6) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t. 2, tr. 93 - 94
(7) Chính cương Đảng Lao động Việt Nam (năm 1951), https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-ii/chinh-cuong-dang-lao-dong-viet-nam-1448
(8) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t. 12, tr. 91
(9), (10) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007. t. 51, tr. 133, 136
(11), (12) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 70
(13) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t. 65, tr. 139
(14) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr. 67 - 68
(15) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr. 71