Một số tiêu chí đánh giá cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập trong điều kiện sáp nhập, hợp nhất phù hợp yêu cầu vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Thứ hai - 13/07/2026 13:05 13 0
Cuộc cải cách hành chính và tinh gọn bộ máy quyết liệt từ giữa năm 2025 tại Việt Nam đã mang lại những thay đổi căn bản trong cấu trúc hệ thống chính trị. Việc giảm số lượng đơn vị hành chính cấp tỉnh từ 64 xuống còn 34, loại bỏ cấp huyện trung gian và sáp nhập mạnh mẽ cấp xã đã đặt ra yêu cầu cấp bách đối với sự tồn tại và phát triển của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập (CSGDNNCL).
13 7 cogiao
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu hoàn thành việc sắp xếp các trường công lập trước ngày 30/8/2026. (Ảnh minh họa: Phan Phương/TTXVN).

Áp lực đổi mới từ thực tiễn khách quan

Hiện nay, mạng lưới giáo dục nghề nghiệp (GDNN) nước ta đang bộc lộ nhiều điểm hạn chế mang tính hệ thống. Thực tế cho thấy quy mô giáo dục nghề nghiệp còn nhỏ; cơ cấu ngành, nghề và trình độ đào tạo chưa thực sự phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động. Chất lượng và hiệu quả đào tạo nhìn chung chưa cao, đặc biệt là trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, các ngành nghề mới và kỹ năng tiên tiến phục vụ Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Trước bối cảnh đó, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản định hướng chiến lược quan trọng, tiêu biểu là Chỉ thị số 21-CT/TW của Ban Bí thư và Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Các văn kiện này đặt ra mục tiêu đầy tham vọng đến năm 2030: hình thành đội ngũ lao động lành nghề, phát triển giai cấp công nhân và nông dân hiện đại. Việt Nam phấn đấu có khoảng 90 cơ sở GDNN chất lượng cao (trong đó có các cơ sở thực hiện chức năng trung tâm quốc gia, trung tâm vùng), tiếp cận trình độ các nước ASEAN-4 và G20, đồng thời phát triển khoảng 200 ngành, nghề trọng điểm có năng lực cạnh tranh vượt trội.

Để đạt được những mục tiêu lớn này, việc sáp nhập, hợp nhất hoặc giải thể các cơ sở yếu kém, hoạt động không hiệu quả là một bước đi tất yếu. Các tiêu chí đánh giá mới vừa phải kế thừa các chuẩn mực trước đây, vừa phải thích ứng nhanh chóng với các quy định pháp luật mới ban hành chủ yếu trong năm 2025, phù hợp với sự vận hành của mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Đặc điểm của cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập

Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2025 và Luật Giáo dục năm 2019, giáo dục nghề nghiệp được xác định là một bậc học độc lập trong hệ thống giáo dục quốc dân, thực hiện đào tạo ở các trình độ: sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác. Xét về mặt tổ chức, CSGDNNCL bản chất là một loại hình đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL) do Nhà nước đầu tư và thành lập. Các cơ sở này có tư cách pháp nhân, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, cung cấp dịch vụ công phục vụ xã hội và hỗ trợ đắc lực cho nhiệm vụ quản lý nhà nước.

Mạng lưới CSGDNNCL hiện nay bao gồm các trường cao đẳng, trường trung cấp, trường trung học nghề và các cơ sở tham gia hoạt động GDNN như trung tâm GDNN - GDTX, doanh nghiệp, hợp tác xã. Trong cấu trúc thể chế, các cơ sở này sở hữu bốn đặc trưng cốt lõi:

Thứ nhất, thực hiện cơ chế tự chủ tài chính theo Nghị định số 60/2021/NĐ-CP: Quyền tự chủ này bao gồm ba trụ cột: tự chủ về tài chính (chủ động nguồn thu - chi, tìm kiếm và sử dụng nguồn lực minh bạch); tự chủ về tổ chức, nhân sự (quyết định cơ cấu bộ máy, tuyển dụng, bổ nhiệm); và tự chủ về học thuật (tuyển sinh, đào tạo, nghiên cứu khoa học, cấp phát văn bằng).

Thứ hai, thành phần nhân sự chủ yếu là viên chức: Đội ngũ này hoạt động chuyên môn theo vị trí việc làm, không có chức năng quản lý hành chính nhà nước. Cơ sở chỉ được phép tuyển sinh khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bởi cơ quan quản lý chuyên trách Trung ương.

Thứ ba, hoạt động xuất phát từ nhu cầu của Nhà nước và xã hội: Mục tiêu hàng đầu là nâng cao năng suất, chất lượng lao động, tạo điều kiện cho người học tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Thứ tư, sở hữu đặc quyền về hạ tầng: Khi thành lập, các CSGDNNCL được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất để xây dựng trụ sở, công trình sự nghiệp phục vụ nhiệm vụ chuyên môn.

Hệ thống tiêu chí đánh giá toàn diện đáp ứng yêu cầu sáp nhập

Để việc sắp xếp, sáp nhập các cơ sở không mang tính cơ học mà thực sự tạo ra động lực phát triển mới, hệ thống tiêu chí đánh giá cần được xây dựng dựa trên năm chuẩn mực cốt lõi sau:

Tính hiệu quả và hiệu lực (Effective and efficiency): Đo lường tối ưu hóa giữa chi phí và kết quả đầu ra. Một cơ sở hoạt động tốt phải thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược với mức chi phí ngân sách thấp nhất, phản ánh sinh động chính sách pháp luật vào thực tiễn.

Chất lượng dịch vụ đào tạo linh hoạt (Flexible): Khả năng thích ứng nhanh chóng trước sự thay đổi của nhu cầu xã hội và xu hướng thị trường lao động trong nước, quốc tế, không bị trói buộc bởi các chương trình đào tạo xơ cứng.

Năng lực quản lý và tinh gọn tổ chức (Management capacity): Đảm bảo sự nhất quán, tránh tình trạng luật pháp rời rạc. Thủ tục hành chính nội bộ phải đơn giản, tối ưu hóa bộ máy quản lý để vận hành thông suốt.

Tính công bằng và trách nhiệm giải trình (Equitable): Tạo ra sự cân bằng tuyệt đối giữa quyền tự chủ được giao và trách nhiệm đi kèm đối với người học, phụ huynh, nhà tuyển dụng và Nhà nước.

Sự thừa nhận của cộng đồng và xã hội (Social Conformity): Mức độ hài lòng của xã hội đối với chất lượng đầu ra. Đây chính là bản chất của 'hợp đồng' giữa Nhà nước và cơ sở trong cơ chế tự chủ: Nhà nước giảm chi ngân sách, trao quyền chủ động, buộc cơ sở phải nâng cao chất lượng để tự thu hút người học.

Một số giải pháp hoàn thiện tiêu chí cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập đáp ứng yêu cầu sáp nhập, hợp nhất phù hợp yêu cầu vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Thứ nhất, xây dựng hệ thống những tiêu chuẩn đánh giá cụ thể đối với CSGDNNCL (sử dụng trong khoảng thời gian nhất định) để thuận tiện cho việc sáp nhập, hợp nhất thậm chí giải thể trong điều kiện thích ứng với sự vận hành của mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, bao gồm cả nội dung bên trong và về mặt hình thức như: cơ cấu tổ chức, nhân sự; quy mô chỉ tiêu đào tạo; sự đánh giá về chất lượng chương trình đào tạo (đánh giá trong, đánh giá ngoài); số lượng giảng viên, giáo viên cơ hữu cùng những yêu cầu tiêu chuẩn nhất định; rà soát cơ sở vật chất, phương tiện dạy – học, trong đó quan tâm quy hoạch vị trí trụ sở cùng khả năng khai thác tạo nguồn thu từ cơ sở vật chất nhằm đánh giá, định hướng khả năng tự chủ tài chính cũng như sự phát triển bền vững đối với CSGDNNCL.    

Thứ hai, cấu trúc lại CSGDNNCL về mặt số lượng CSGDNNCL cùng kết cấu nội bộ cho phù hợp với quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2025 và đơn giản cơ quan có thẩm quyền chủ quản đối với CSGDNNCL (có tính toán đến phân cấp, phân quyền), theo đó về mặt số lượng cần đẩy mạnh việc sáp nhập, hợp nhất, giải thể, sắp xếp lại CSGDNNCL trong cùng khối ngành như: kỹ thuật - công nghệ, kinh tế - tài chính, du lịch - thể thao; văn hóa - xã hội… theo đơn vị hành chính cấp tỉnh (có thể theo mô hình: trụ sở chính - phân hiệu hay địa điểm khác), quan tâm tối thiểu về mặt số lượng CSGDNNCL/1 đơn vị tỉnh thành (khuyến khích mô hình GDNN bên ngoài nhà nước). Về thẩm quyền của cơ quan chủ quản, cần nghiên cứu tháo bỏ CSGDNNCL trực thuộc cơ quan cấp bộ, giao về thuộc UBND cấp tỉnh nhằm tạo thuận lợi cho việc giám sát, kiểm tra, thanh tra CSGDNNCL, góp phần tạo hiệu quả, hiệu năng hoạt động và đáp ứng yêu cầu thị trường lao động đối với CSGDNNCL trên địa bàn từng tỉnh/thành.

Thứ ba, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động của cơ quan chủ quản đối với  CSGDNNCL nhằm chấn chỉnh kịp thời những sai phạm có thể xảy ra đối với việc sử dụng, khai thác tài sản công, quyền sử dụng đất, các khoản sử dụng nguồn ngân sách đã được cấp nhằm giúp CSGDNNCL định hình rõ hơn những hoạt động liên quan đến tài chính vốn CSGDNNCL không chuyên nghiệp và chưa thích ứng tốt với cơ chế TCTC, chính vì vậy mà trong thực tế hầu như chưa có CSGDNNCL nào tự chủ được hoàn toàn về tài chính. Đặc biệt, qua công tác thanh tra, kiểm tra để rà soát, sắp xếp lại đất đai mà Nhà nước đã giao cho CSGDNNCL nhằm định hướng khai thác phù hợp với những quy định mới của Luật Đất đai năm 2024, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017 (đã được sửa đổi, bổ sung) cùng Nghị định số 186/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công. Việc cần thiết trước mắt là xây dựng được biểu mẫu, dự án mẫu giúp cho việc khai thác quyền sử dụng đất để tạo nguồn thu như sử dụng đất đa mục đích nhằm giúp CSGDNNCL đảm bảo nguồn thu trong quá trình TCTC.

Thứ tư, xây dựng hệ thống những tiêu chí của CSGDNNCL sau hoạt động sáp nhập, hợp nhất, giải thể để thực hiện từ sau năm 2030 trên tinh thần “đổi mới, phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp” ; “Đầu tư cho giáo dục nghề nghiệp được ưu tiên trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phát triển nhân lực  ... cũng như tinh thần “đột phá phát triển giáo dục và đào tạo” theo Nghị quyết số 71-NQ/TW. Cụ thể, gồm 6 tiêu chí sau: (i) về quy mô chỉ tiêu đào tạo phải đạt từ 1.500 người học/năm tuyển sinh/CSGDNNCL, trừ trường hợp đặc thù ; (ii) tiêu chí về diện tích đất tối thiểu của trường trung học và trường trung cấp là 10.000 m2 đối với khu vực đô thị hoặc 20.000 m2 đối với khu vực ngoài đô thị; trường cao đẳng là 20.000 m2 đối với khu vực đô thị hoặc 40.000 m2 đối với khu vực ngoài đô thị ; (iii) tiêu chí về trình độ của viên chức đến năm 2035  phải đạt 5% trình độ tiến sĩ, 75% trình độ thạc sĩ liên quan đến chuyên ngành giảng dạy và được đảm bảo các điều kiện về GDNN liên quan và tính 1 giáo viên, giảng viên/25 người học nhằm đảm bảo tính thực hành, thực tập, học lý thuyết gắn với thực hành nghề nghiệp; (iv) tiêu chí về thời gian, địa điểm thực hành nghề nghiệp, phải đạt 70% thời gian thực hành nghề nghiệp, địa điểm thực hành nghề nghiệp phải tương ứng với điều kiện làm việc sau khi ra trường; (v) tiêu chí về đánh giá chất lượng đào tạo; CSGDNNCL phải được đánh giá chất lượng ngoài từ sau năm 2030, hằng năm phải rà soát tỷ lệ người học có việc làm từ 80% và có mối liên hệ với người sử dụng lao động, đảm bảo người học được nhận ít nhất từ 50% người học; (vi) tiêu chí về tự chủ tài chính đến năm 2035 CSGDNNCL phải tự chủ được từ 100% cho các khoản chi thường xuyên và không thường xuyên, trừ các trường hợp đặc biệt do Nhà nước đặt hàng và bao cấp từ ngân sách. Bên cạnh đó, các điều kiện, tiêu chí khác CSGDNNCL phải tự trang bị nhằm đảm bảo sự phát triển trong môi trường cạnh tranh.

Việc xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá và thực hiện tái cấu trúc các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập không còn là một lựa chọn mang tính khuyến khích, mà đã trở thành nhiệm vụ chính trị cấp bách nhằm thích ứng với bộ máy chính quyền hai cấp tinh gọn. Khi thể chế đã thay đổi, các CSGDNNCL buộc phải tự làm mới mình, nâng cao năng lực cạnh tranh và thực hiện tự chủ toàn diện. Chỉ có như vậy, hệ thống giáo dục nghề nghiệp mới có thể cất cánh, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao vững vàng, đưa nền kinh tế đất nước hội nhập sâu rộng vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Nguyễn Duy Quốc
---------------------------
Tài liệu tham khảo
1. Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 04/05/2023 của Ban Bí thư về đổi mới, phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp đến năm 2030, tầm nhìn 2045.
2. Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/08/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
3. Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2025 và Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017 (sửa đổi, bổ sung).
4. Nguyễn Duy Quốc (2025, 2026), Các nghiên cứu về cấu trúc lại và tự chủ tài chính của cơ sở giáo dục công lập, Tạp chí Nghề luật & Tạp chí Dân chủ & Pháp luật.
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây