“Quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ” trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Thứ năm - 08/10/2026 21:41 88 0
Giải phóng phụ nữ, thực hiện nam nữ bình quyền là một bộ phận không thể tách rời của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Đó cũng là quan điểm nhất quán, giàu giá trị nhân văn trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “Quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”.
8 10 Bac Ho
Chủ tịch Hồ Chí Minh với các cán bộ cơ quan Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam ở Việt Bắc, tháng 02/1949. Ảnh tư liệu.

Bình đẳng giới gắn với giải phóng con người và phát huy vai trò của phụ nữ

Trong thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thuật ngữ “bình đẳng giới” chưa được sử dụng phổ biến như hiện nay. Người thường dùng các cách diễn đạt như “nam nữ bình quyền”, “giải phóng phụ nữ”, “quyền bình đẳng của phụ nữ”. Nội dung cốt lõi rất rõ: phụ nữ phải được nhìn nhận là chủ thể bình đẳng, có quyền và khả năng tham gia đầy đủ vào đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.

Ngay từ những năm 1920, trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Muốn thế giới cách mệnh thành công, thì phải vận động đàn bà con gái công nông các nước”1. Đến năm 1930, trong Chánh cương vắn tắt của Đảng do Người khởi thảo, yêu cầu “nam nữ bình quyền” được xác định ngay trong các nhiệm vụ về phương diện xã hội2. Điều đó cho thấy quyền của phụ nữ đã được đặt trong tổng thể mục tiêu giải phóng dân tộc, xây dựng một xã hội mới và bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn trân trọng những đóng góp của phụ nữ trong lịch sử và trong sự nghiệp cách mạng. Trong Thư gửi phụ nữ nhân dịp kỷ niệm Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng và Ngày Quốc tế Phụ nữ năm 1952, Người viết: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”3. Câu nói không chỉ là sự ghi nhận những cống hiến của phụ nữ, mà còn khẳng định phụ nữ là một lực lượng quan trọng trong công cuộc dựng nước và giữ nước.

Cùng với việc yêu cầu xã hội đánh giá đúng vai trò của phụ nữ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng sự tự vươn lên của chính phụ nữ. Nói chuyện tại Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ III ngày 09/3/1961, Người căn dặn phụ nữ “phải xóa bỏ cái tâm lý tự ti và ỷ lại; phải có ý chí tự cường, tự lập; phải nâng cao lên mãi trình độ chính trị, văn hóa, kỹ thuật”4. Bình đẳng, theo tinh thần đó, không phải là sự “cào bằng”, mà là bảo đảm điều kiện, cơ hội để mỗi người phát huy năng lực; đồng thời mỗi cá nhân phải chủ động học tập, rèn luyện và khẳng định mình bằng năng lực, trách nhiệm.

Từ bình đẳng về pháp lý đến “quyền bình đẳng thật sự” cho phụ nữ

Một điểm nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh là Người nhìn thấy khoảng cách giữa quyền được ghi nhận trong pháp luật và việc hiện thực hóa quyền ấy trong đời sống. Nam nữ bình quyền đã được xác lập về nguyên tắc, nhưng định kiến trọng nam khinh nữ, tập quán phong kiến và sự bất bình đẳng trong gia đình không thể mất đi chỉ bằng một tuyên bố hay một đạo luật.

Tại Hội nghị cán bộ thảo luận dự thảo Luật Hôn nhân và gia đình ngày 10/10/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa”5. Ngay sau đó, Người chỉ rõ: “Giải phóng người đàn bà, đồng thời phải tiêu diệt tư tưởng phong kiến, tư tưởng tư sản trong người đàn ông”6. Những lời giáo huấn này cho thấy thực hiện bình đẳng không chỉ là nhiệm vụ của phụ nữ; đó còn là quá trình thay đổi nhận thức và hành vi của nam giới, gia đình, cộng đồng và các thiết chế xã hội; kết hợp tuyên truyền, giáo dục với thực hiện nghiêm pháp luật, từng bước loại bỏ những quan niệm và hành vi cản trở quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, hai yếu tố luôn đi cùng nhau: trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, tổ chức và xã hội trong việc tạo điều kiện cho phụ nữ; đồng thời là ý thức tự lực, tự cường của chính phụ nữ. Bình đẳng thực chất vì thế không thể chỉ trông chờ vào sự thay đổi nhận thức của từng cá nhân, mà cần được bảo đảm bằng chính sách, công tác cán bộ, giáo dục, đào tạo và môi trường xã hội phù hợp.

Trong Di chúc, Người căn dặn: “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”7. Cụm từ “bình đẳng thật sự” thể hiện một yêu cầu rất cao: quyền bình đẳng không chỉ tồn tại trên văn bản mà phải trở thành cơ hội thực tế để phụ nữ học tập, lao động, cống hiến, tham gia quản lý, lãnh đạo và phát triển.

Giá trị bền vững trong giai đoạn hiện nay

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nam nữ bình quyền tiếp tục có ý nghĩa thiết thực trong yêu cầu bảo đảm quyền con người, xây dựng Nhà nước pháp quyền và phát triển nguồn nhân lực. Pháp luật hiện hành cũng hướng tới mục tiêu “tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ”8, đồng thời tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực. Đây là sự tiếp nối ở bình diện pháp lý đối với yêu cầu biến quyền bình đẳng thành những điều kiện và cơ hội có thể được thụ hưởng trong thực tế.

Đối với các cơ quan tư pháp nói chung và ngành Kiểm sát nhân dân nói riêng, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới trước hết thể hiện ở sự thượng tôn pháp luật, tôn trọng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mọi cá nhân không phân biệt giới tính; đồng thời xây dựng môi trường công tác công bằng, tạo điều kiện để cán bộ nữ được đào tạo, rèn luyện, phát triển và đảm nhiệm công việc phù hợp với năng lực. Trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp và xây dựng ngành Kiểm sát nhân dân, yêu cầu công bằng, khách quan, tôn trọng quyền con người cũng chính là nền tảng để các quy định về bình đẳng được thực hiện nghiêm túc và thực chất.

Kỷ niệm Ngày Phụ nữ Việt Nam (20/10), không chỉ là dịp tôn vinh những đóng góp của phụ nữ, mà còn là dịp nhìn lại trách nhiệm của mỗi cơ quan, tổ chức và cá nhân trong việc biến nguyên tắc bình đẳng thành thực tế đời sống. Từ yêu cầu “nam nữ bình quyền” đến mong muốn về “quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ” theo tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn luôn dẫn đường, định hướng sâu sắc: xã hội chỉ có thể phát triển bền vững khi mọi người đều được tôn trọng, được trao cơ hội và có điều kiện phát huy năng lực của mình như nhau.
ThS. Ngô Hải Sơn
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ
----------------
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 313.
2 Hồ Chí Minh, sđd, tập 3, tr. 1.
3 Hồ Chí Minh, sđd, tập 7, tr. 340.
4 Hồ Chí Minh, sđd, tập 13, tr. 59.
5 Hồ Chí Minh, sđd, tập 12, tr. 300.
6 Hồ Chí Minh, sđd, tập 12, tr. 301.
7 Hồ Chí Minh, sđd, tập 15, tr. 617.
8 Điều 4, Luật Bình đẳng giới (văn bản hợp nhất số 45/VBHN-VPQH ngày 17/3/2026 của Văn phòng Quốc hội).
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây