Sau 8 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, kinh tế biển đã có nhiều chuyển biến tích cực, đóng góp ngày càng quan trọng vào tăng trưởng, song vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế to lớn của đất nước.
Do vậy, trong tình hình mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, đặc biệt khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết phải đổi mới tư duy, chuyển mạnh từ “tư duy kinh tế biển” sang “tư duy không gian phát triển biển quốc gia mạnh,” việc tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, đổi mới mô hình quản trị biển và kiến tạo động lực cho các ngành kinh tế biển hiện đại, đang trở thành yêu cầu cấp thiết để đưa biển thực sự trở thành động lực tăng trưởng chiến lược của Việt Nam trong thế kỷ XXI.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho biết sau 8 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW, nhiều cơ chế, chính sách đã được ban hành, góp phần thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế biển. Tuy nhiên, kết quả vẫn chưa tương xứng với lợi thế mà Việt Nam đang sở hữu, với hơn 3.260 km bờ biển, diện tích 1 triệu km2 cùng hệ thống hơn 4.000 hòn đảo.
Đáng chú ý, hiện còn nhiều điểm nghẽn, chồng chéo trong công tác quản lý nhà nước. Cụ thể là sự giao thoa giữa Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo với Luật Điện lực, Luật Hàng hải cùng các quy định liên quan giữa nhiều bộ, ngành như Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công Thương…
Theo ông Điệp, những bất cập trên khiến quá trình triển khai các dự án kinh tế biển gặp khó khăn, phát sinh thủ tục và tạo thêm gánh nặng cho doanh nghiệp. Do đó, sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo là yêu cầu cấp thiết nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, đồng thời tạo hành lang pháp lý cho các lĩnh vực kinh tế biển mới như điện gió ngoài khơi, nuôi trồng thủy sản biển, khai thác tài nguyên biển sâu và phát triển du lịch biển.

Với tinh thần đó, Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp nhấn mạnh: “Bộ Nông nghiệp và Môi trường mong muốn quá trình sửa luật không chỉ dừng ở hoàn thiện văn bản pháp lý mà phải giải quyết được các vướng mắc thực tiễn, tạo động lực mới cho phát triển kinh tế biển bền vững trong thời gian tới.”
Tiến sỹ Phạm Ngọc Sơn, nguyên Quyền Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam cũng nhấn mạnh trước đây, hoạt động quản lý biển chủ yếu theo cách tiếp cận ngành nào quản lý phần việc của ngành đó. Điều này khiến các lĩnh vực đều tối ưu hóa lợi ích riêng, dẫn tới chồng chéo, mâu thuẫn trong khai thác không gian biển, phát sinh nhiều vấn đề môi trường.
Về khía cạnh chính sách, nguyên Quyền Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam cho rằng trong khoảng gần 10 năm trở lại đây, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo 2015 đã khởi tạo cách tiếp cận quản lý tích hợp, dùng các công cụ điều phối để hài hòa hoạt động trên biển, vừa phát triển kinh tế vừa bảo vệ hệ sinh thái và lợi ích cộng đồng. Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao và thúc đẩy kinh tế biển trở thành động lực mới, nhiều quy định đã bộc lộ hạn chế.
Tư duy mới cần đặt trọng tâm vào quản trị, tức không chỉ kiểm tra, giám sát mà còn phải chia sẻ và đồng hành cùng doanh nghiệp, cộng đồng trong quá trình phát triển.
Ông Sơn cho rằng nếu sửa luật mà chỉ dừng ở tăng cường quản lý mà không tạo được động lực phát triển kinh tế biển thì “coi như chưa hoàn thành nhiệm vụ.” Do đó, điểm mấu chốt trong sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo lần này là cần phải chuyển mạnh từ “quản lý biển” sang “quản trị biển.” Tư duy mới cần đặt trọng tâm vào quản trị, tức không chỉ kiểm tra, giám sát mà còn phải điều phối, chia sẻ và đồng hành cùng doanh nghiệp, cộng đồng trong quá trình phát triển.
“Biển là một thể thống nhất. Tác động trên biển lan rất nhanh, nên không thể quản lý theo ranh giới của từng ngành,” ông Sơn nói và cho rằng quá trình quy hoạch, ra quyết định cần lấy tiếng nói thực chất của doanh nghiệp, người dân, cộng đồng, thay vì chỉ dựa trên ý chí quản lý đơn thuần.

Đề xuất giải pháp để phát triển nhanh và bền vững kinh tế biển trong tình hình mới, ông Vũ Mạnh Hùng, Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành (Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương) đề xuất 9 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững kinh tế biển Việt Nam trong bối cảnh mới.
Trước hết, ông Hùng cho đề xuất đổi mới tư duy và nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản trị biển (bao gồm tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức toàn xã hội); chuyển từ quản lý theo ngành sang quản trị không gian biển tổng hợp, dựa trên hệ sinh thái. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, hoàn thiện cơ chế điều phối liên ngành đủ mạnh, rõ trách nhiệm và hiệu quả thực thi.
Tiếp đó, ông Hùng đề xuất hoàn thiện thể chế, pháp luật theo hướng đồng bộ, minh bạch và có tính đột phá. Trọng tâm là tháo gỡ chồng chéo, khơi thông nguồn lực, phát triển thị trường quyền sử dụng khu vực biển và sớm ban hành Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi); đồng thời nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, bảo đảm “tốt trong thực tiễn.”
Các nhóm giải pháp tiếp theo được Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành đề xuất như: Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, phát triển mạnh doanh nghiệp biển; phát triển đồng bộ hạ tầng và không gian kinh tế biển; phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, giá trị gia tăng cao; bảo vệ môi trường, hệ sinh thái, nâng cao chất lượng sống cho cư dân ven biển và hải đảo.

Đặc biệt, trong kỷ nguyên số, ông Hùng nhấn mạnh tới nhóm giải pháp đột phá về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực (trong đó ưu tiên công nghệ biển hiện đại, chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu biển quốc gia và thúc đẩy ứng dụng AI, viễn thám trong quản lý; đồng thời, phát triển đội ngũ nhân lực chất lượng cao, chuyên sâu về kinh tế biển.
Song song với đó, ông Hùng đề cập đến việc kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế; bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo, giữ môi trường hòa bình; đồng thời chủ động hội nhập, thu hút nguồn lực, công nghệ và tham gia quản trị biển toàn cầu.
Nêu ý kiến từ khía cạnh cơ quan quản lý, ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam cho rằng việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được kỳ vọng sẽ tạo ra khuôn khổ pháp lý mới cho quản trị biển hiện đại, khơi thông nguồn lực đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững. Một trong những điểm mới quan trọng của dự thảo luật là mở rộng phạm vi điều chỉnh từ quản lý tài nguyên, môi trường biển sang quản trị tổng hợp tài nguyên, không gian biển và môi trường biển.
Theo cơ quan soạn thảo dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), biển không chỉ là nơi chứa tài nguyên mà còn là không gian phát triển đa ngành, đa mục tiêu, gắn với kinh tế, quốc phòng, an ninh và lợi ích chiến lược quốc gia. Do đó, dự thảo luật bổ sung cơ chế quản lý, phân bổ và điều phối không gian biển theo hướng phù hợp với Quy hoạch không gian biển quốc gia. Dự thảo luật cũng đề xuất cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đặc thù cho các ngành kinh tế biển mới như năng lượng tái tạo ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, logistics biển, hạ tầng biển dùng chung hay các mô hình kinh tế biển xanh, kinh tế carbon thấp. Về môi trường, dự thảo luật chuyển mạnh từ tư duy xử lý ô nhiễm sau sự cố sang phòng ngừa từ sớm, từ nguồn.
Các nội dung mới tập trung vào kiểm soát rác thải biển, rác thải nhựa đại dương, ô nhiễm xuyên biên giới và phục hồi hệ sinh thái biển. Đồng thời, dự thảo tăng cường ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và quan trắc thông minh để phục vụ quản trị biển hiện đại.

Cũng theo Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam, những sửa đổi lần này thể hiện sự chuyển đổi lớn trong tư duy quản trị biển của Việt Nam, từ quản lý theo ngành sang quản trị tổng hợp, từ kiểm soát đơn thuần sang vừa quản lý chặt chẽ vừa kiến tạo phát triển kinh tế biển bền vững. Dự thảo luật dự kiến được trình Quốc hội vào tháng 10/2026.
Với kinh nghiệm nhiều năm công tác và nghiên cứu sâu về biển, đặc biệt là phát triển kinh tế biển xanh, Phó Giáo sư - Tiến sỹ Nguyễn Chu Hồi (nguyên Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, Đại biểu Quốc hội khóa XV, Phó Chủ tịch thường trực-phụ trách Hội Thuỷ sản Việt Nam), cho rằng để sớm trở thành một “Quốc gia biển mạnh trong Thế kỷ XXI,” với mô hình quản trị biển quốc gia hiện đại, thống nhất, liên thông, trước hết và tiên quyết phải ưu tiên tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế, cơ chế chính sách.
PV theo VietnamPlus