Bảo vệ và phát huy giá trị cách mạng, khoa học và nhân văn của đường lối đổi mới trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Vo Tan Vinh
2026-11-02T04:27:02-05:00
2026-11-02T04:27:02-05:00
http://btgdv.cantho.gov.vn/vi/news/bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang/bao-ve-va-phat-huy-gia-tri-cach-mang-khoa-hoc-va-nhan-van-cua-duong-loi-doi-moi-trong-ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc-viet-nam-4821.html
http://btgdv.cantho.gov.vn/uploads/news/2026_11/2-10-co.jpg
Trang thông tin điện tử Ban Tuyên giáo Thành ủy Cần Thơ
http://btgdv.cantho.gov.vn/uploads/logo-tg-dv-2.png
Đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện thực tiễn Việt Nam. Trên cơ sở phân tích thực tiễn phát triển đất nước, bài viết làm rõ tính cách mạng, khoa học và nhân văn của đường lối đổi mới. Đồng thời, bài viết tiến hành nhận diện, phân tích và phản bác các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận giá trị của đường lối đổi mới, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Từ đó khẳng định, những thành tựu toàn diện về kinh tế, chính trị, đối ngoại, phát triển con người và vị thế quốc tế của Việt Nam chính là minh chứng thực tiễn thuyết phục nhất cho tính đúng đắn, khoa học và nhân văn của đường lối đổi mới. Trong bối cảnh “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, việc bảo vệ, kiên định và phát huy các giá trị cách mạng, khoa học và nhân văn của đường lối đổi mới có ý nghĩa chiến lược đối với mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.
Từ khóa: đường lối đổi mới; Đảng Cộng sản Việt Nam; cách mạng; khoa học; nhân văn; kỷ nguyên vươn mình.
Phát huy trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới. Ảnh minh họa: vov.vn
1. Đặt vấn đề
Đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam được khởi xướng từ Đại hội VI (1986) không đơn thuần là một sự điều chỉnh về chính sách kinh tế, mà đã trở thành một bước ngoặt mang tính cách mạng, đưa dân tộc khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng và mở ra một chương mới trong lịch sử phát triển của đất nước. Từ một nền kinh tế khủng hoảng kéo dài sau chiến tranh (lạm phát 774,7%), bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã từng bước vươn lên trở thành quốc gia có thu nhập trung bình với vị thế quốc tế ngày càng được nâng cao. Những thành tựu đó gắn liền với quá trình đổi mới tư duy phát triển của Đảng. Đây là minh chứng cho bản lĩnh chính trị và tính khoa học của Đảng khi dám nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật để tự làm mới mình. Sau 40 năm, Việt Nam đã vươn lên với nền kinh tế đứng thứ 35 thế giới với quy mô GDP đạt trên 430 tỷ USD và là quốc gia có chỉ số HDI thuộc nhóm cao với sự khẳng định “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.25).
Bước sang thập niên thứ ba của thế kỷ XXI, dân tộc ta đang đứng trước một ngưỡng cửa lịch sử mới “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”. Đây là thời điểm mà “thế” và “lực” của Việt Nam đã đủ chín muồi để vươn mình trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Sứ mệnh dân tộc lúc này không chỉ là tăng trưởng về con số, mà là sự phát triển bền vững dựa trên chuyển đổi số, xanh hóa và hiện đại hóa quản trị quốc gia, đặt con người vào vị trí trung tâm.
Tuy nhiên, cơ hội càng lớn thì thách thức càng nhiều. Sự bứt phá của dân tộc đang bị đe dọa bởi những luồng quan điểm sai trái, thù địch hòng phủ nhận thành tựu của quá trình đổi mới và bóp méo nền tảng tư tưởng Đảng. Chúng rắp tâm tách rời tính cách mạng khỏi tính khoa học, triệt tiêu tính nhân văn trong các chính sách của Đảng để gây chia rẽ khối đại đoàn kết hòng thực hiên mưu đồ đen tối. Trong bối cảnh của sự hội nhập, bứt phá và vươn mình, việc nhận diện và khẳng định các giá trị cốt lõi của đường lối đổi mới trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Lý luận đường lối đổi mới là nền tảng tư tưởng vững chắc bảo vệ dân tộc trước những biến động phức tạp của thời đại; nhận diện phản bác các quan điểm sai trái về giá trị cách mạng, khoa học và nhân văn của đường lối đổi mới. Từ đó, khẳng định quyết tâm thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử trong kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.
2. Nội dung
2.1. Giá trị cách mạng, khoa học và nhân văn trong đường lối đổi mới của Đảng - Yếu tố nền tảng tư tưởng và động lực cho sự phát triển bền vững
2.1.1 Giá trị cách mạng
Sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam chính là sự kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đây không chỉ là sự lựa chọn mang tính chính trị, mà còn là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn cách mạng Việt Nam, đồng thời phản ánh rõ nhận thức của Đảng về quy luật vận động của lịch sử dân tộc trong thời đại mới. Bản lĩnh lớn nhất của công cuộc đổi mới thể hiện ở khả năng đổi mới tư duy và phương thức phát triển để giữ vững mục tiêu đã chọn trong bối cảnh thế giới thường xuyên biến động.
Giá trị cách mạng của đường lối đổi mới thể hiện ở năng lực vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam. Đảng tiếp cận chúng với tư cách phương pháp luận khoa học để giải quyết các vấn đề thực tiễn của một quốc gia đi lên chủ nghĩa xã hội từ nền sản xuất nhỏ và chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh. Sau sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, nhiều quốc gia rơi vào khủng hoảng về đường lối và khủng hoảng niềm tin chính trị. Trong bối cảnh đó, Việt Nam vẫn kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, đồng thời chủ động tiến hành đổi mới toàn diện đất nước - đổi mới ở đây không phải là từ bỏ lý tưởng cách mạng, mà đổi mới để hiện thực hóa lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội bằng những phương thức phù hợp với điều kiện lịch sử mới. Điều này cho thấy bản lĩnh, năng lực cầm quyền của Đảng trong quá trình cách mạng.
Thực tiễn 40 năm đổi mới đã chứng minh tính đúng đắn của sự lựa chọn ấy. Từ một nền kinh tế khép kín, thiếu lương thực và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã vươn lên trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao, duy trì tốc độ tăng trưởng thuộc nhóm cao ở châu Á và không ngừng nâng cao vị thế quốc tế. Năm 2025, tăng trưởng GDP đạt 8,02%, quy mô GDP ước đạt 12.847,6 nghìn tỷ đồng, tương đương 514 tỷ USD, xếp thứ 32 trên thế giới, thu nhập bình quân đầu người đạt 5.026 USD xếp vào nhóm có thu nhập trung bình cao (ĐCSVN, 2026, tr.47). Những thành tựu đó cho thấy đổi mới không làm thay đổi bản chất của chế độ, mà trái lại tạo thêm điều kiện vật chất để hiện thực hóa mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Không chỉ đổi mới về kinh tế, Đảng còn thể hiện bản lĩnh cách mạng ở khả năng tự đổi mới và tự chỉnh đốn để đáp ứng yêu cầu của thời đại. Đại hội VI của Đảng năm 1986 là dấu mốc đặc biệt quan trọng khi Đảng dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật và nói rõ sự thật để khởi xướng công cuộc đổi mới. Đó không đơn thuần là sự điều chỉnh chính sách kinh tế, mà là bước chuyển có ý nghĩa cách mạng trong tư duy lãnh đạo và phương thức cầm quyền. Giá trị cách mạng của đổi mới vì thế không nằm ở sự phủ định quá khứ, mà ở năng lực tự điều chỉnh để bảo vệ những giá trị cốt lõi của cách mạng Việt Nam trong điều kiện mới.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, đường lối đổi mới còn cho thấy năng lực xử lý hài hòa mối quan hệ giữa hội nhập quốc tế và giữ vững độc lập, tự chủ. Việt Nam vừa mở rộng quan hệ đối ngoại sâu rộng với các trung tâm quyền lực lớn, vừa duy trì ổn định chính trị - xã hội và bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc. Điều đó phản ánh sự trưởng thành về tư duy chiến lược của Đảng và là minh chứng thực tiễn cho quan điểm phát triển đất nước trên cơ sở duy trì nhất quán định hướng phát triển của cách mạng Việt Nam, như Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam… Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử” (Nguyễn Phú Trọng, 2022, tr.17).
Sự kiên định ấy tiếp tục là nền tảng cho hành trình khẳng định vị thế quốc gia độc lập, tự chủ và hùng cường. Văn kiện Đại hội XIV một lần nữa khẳng định giá trị cách mạng trong đường lối đổi mới với sự nhấn mạnh nguyên tắc: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận đường lối đổi mới; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội… để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước, nâng cao đời sống và hạnh phúc của Nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.4).
Việc giữ vững các nguyên tắc này chính là nền tảng bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ chế độ, tạo dựng thế và lực vững chắc để Việt Nam tự tin bước vào thời kỳ phát triển mới của đất nước.
2.1.2. Giá trị khoa học
Giá trị khoa học của đường lối đổi mới trước hết thể hiện ở sự tôn trọng và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan của quá trình phát triển xã hội. Đổi mới là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn sâu sắc trong bối cảnh đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội giai đoạn 1975-1986. Đây là một hệ thống lý luận được hình thành từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, đồng thời là kết tinh trí tuệ tập thể của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thông qua quá trình nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế. Đại hội VI của Đảng khẳng định: “Tập trung trí tuệ toàn Đảng và toàn dân, Đại hội chúng ta tổng kết những kinh nghiệm sáng tạo phong phú... giải quyết một số vấn đề quan trọng về lý luận và thực tiễn” (ĐCSVN, 1987, tr.18). Điều đó cho thấy, bản chất khoa học của đường lối đổi mới nằm ở việc xuất phát từ thực tiễn khách quan, lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn kiểm nghiệm chân lý và không ngừng bổ sung, hoàn thiện nhận thức lý luận trong quá trình phát triển đất nước.
Đặc điểm nổi bật trong giá trị khoa học của đường lối đổi mới là tinh thần khách quan, dám thẳng thắn chỉ ra những sai lầm về chủ trương, chính sách do bệnh chủ quan, duy ý chí và lối suy nghĩ giản đơn, nóng vội gây ra. Việc nhận diện rõ các khuyết điểm trong bố trí cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý thời kỳ 1975-1986 là cơ sở để Đảng dứt khoát xoá bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp và chuyển sang hoạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, thừa nhận nền kinh nhiều thành phần, cơ chế thị trường và từng bước xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Với nỗ lực đó, đến năm 2001 chúng ta khẳng định mô hình kinh tế tổng quát mà Việt Nam đang xây dựng là “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” và đến cuối năm 2024, đã có 73 quốc gia công nhận nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường, chỉ số Tự do kinh tế của Việt Nam được cải thiện và nâng lên vị trí thứ 44/133 quốc gia.
Giá trị khoa học của đường lối đổi mới tiếp tục được phát triển thành tư duy quản trị quốc gia hiện đại minh bạch và hiệu quả thông qua chuyển đổi số toàn diện. Đảng từng bước chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy “Nhà nước kiến tạo phát triển” (ĐCSVN, 2026, tr.374), chú trọng hoàn thiện thể chế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đồng thời, xử lý ngày càng hiệu quả các mối quan hệ lớn giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội; giữa độc lập, tự chủ với hội nhập quốc tế. Giá trị khoa học của đường lối đổi mới, vì thế đã là thước đo của sự đúng đắn về lý luận và là bảo chứng cho hiệu quả của mọi quyết sách chính trị đối với sự phát triển bền vững của đất nước.
2.1.3 Giá trị nhân văn
Giá trị nhân văn của đường lối đổi mới thể hiện xuyên suốt ở mục tiêu tất cả vì con người, do con người và phục vụ con người. Đây là bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và là đích đến cao nhất của mọi chủ trương, chính sách phát triển. Đổi mới không nhằm chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần, càng không phải sự phát triển bằng mọi giá, mà là quá trình phát triển hướng tới mục tiêu nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, quyền làm chủ và hạnh phúc của nhân dân theo phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” (ĐCSVN, 2026, tr.22). Quan điểm “dân thụ hưởng” đã phản ánh bước phát triển mới trong nhận thức lý luận của Đảng, khẳng định nhân là lực lượng tạo ra thành quả đổi mới và nhân dân cũng chính là chủ thể trực tiếp được hưởng thụ thành quả ấy.
Với triết lý phát triển “lấy con người làm trung tâm”, “con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực” của sự phát triển đất nước, trong suốt quá trình đổi mới, Đảng luôn nhất quán quan điểm tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội; không hy sinh an sinh xã hội, môi trường và chất lượng cuộc sống của nhân dân để đổi lấy tốc độ tăng trưởng thuần túy. Nhờ đó, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật về phát triển con người “Chỉ số phát triển con người tăng 14 bậc xếp vào nhóm nước phát triển con người cao, chỉ số hạnh phúc tăng 33 bậc xếp thứ 46/143 quốc gia” (ĐCSVN, 2026, tr.51), “tỉ lệ hộ nghèo đa chiều giảm xuống còn 1,3% năm 2025, mạng lưới giáo dục, y tế, an sinh xã hội tiếp tục được mở rộng, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa và khu vực đồng bào dân tộc thiểu số (ĐCSVN, 2026, tr.52). Điều này cho thấy, bản chất nhân văn thể hiện rõ trong đường lối đổi mới khi lấy hạnh phúc, sự phát triển của Nhân dân làm thước đo và tiêu chuẩn phấn đấu.
Tính nhân văn của đường lối đổi mới còn được thể hiện rõ trong những thời điểm đất nước đứng trước khó khăn, thử thách lớn. Tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau” không chỉ là khẩu hiệu chính trị mà đã trở thành hành động thực tiễn mang đậm giá trị nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có thể thấy rõ trong giai đoạn đại dịch COVID-19. Chính điều đó đã củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và con đường phát triển mà đất nước đang lựa chọn. Không chỉ hướng tới nâng cao đời sống vật chất, giá trị nhân văn của đường lối đổi mới còn thể hiện ở quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người, quyền công dân và quyền làm chủ của Nhân dân. Cùng với đó, Đảng còn nhấn mạnh quyền con người phải gắn với quyền dân tộc, quyền phát triển và lợi ích chung của cộng đồng xã hội. Chính điều ấy tạo nên điểm tựa bền vững nhất cho con đường phát triển lâu dài, bền vững của đất nước.
Từ thực tiễn đổi mới cho thấy, giá trị cốt lõi của đường lối đổi mới luôn gắn bó chặt chẽ, thống nhất với nhau tạo nên sức sống bền vững của đường lối đổi mới và hình thành bản sắc riêng của mô hình phát triển Việt Nam: phát triển nhanh nhưng bền vững, hiện đại nhưng giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ, công bằng xã hội và hạnh phúc của nhân dân.
2.2. Nhận diện và phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc về tính cách mạng, khoa học và nhân văn trong đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, cách mạng công nghiệp 4.0 và sự phát triển bùng nổ của không gian mạng, cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng diễn ra ngày càng quyết liệt, phức tạp và đa chiều. Các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị không ngừng lợi dụng các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, dân chủ, nhân quyền để xuyên tạc đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục tiêu của chúng là phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng; phủ nhận tính cách mạng, khoa học và bản chất nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa; làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
2.2.1. Nhận diện các luận điệu xuyên tạc giá trị cách mạng, khoa học và nhân văn trong đường lối đổi mới của Đảng
Thứ nhất, xuyên tạc giá trị cách mạng của đường lối đổi mới, rêu rao luận điệu “Đổi mới là đổi màu”.
Một trong những luận điệu chống phá nguy hiểm nhất hiện nay là cho rằng công cuộc đổi mới ở Việt Nam thực chất là quá trình “từ bỏ chủ nghĩa xã hội”, “đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”. Các tổ chức phản động lưu vong như Việt Tân, một số blog chống đối và nhiều tài khoản mạng xã hội cực đoan thường xuyên tuyên truyền rằng việc phát triển kinh tế thị trường, thu hút đầu tư nước ngoài hay mở rộng quan hệ với các nước phương Tây là biểu hiện của sự “xa rời lý tưởng xã hội chủ nghĩa”.
Sau các sự kiện đối ngoại lớn của Việt Nam, đặc biệt là việc nâng cấp quan hệ với Hoa Kỳ lên Đối tác chiến lược toàn diện năm 2023, hay sự kiện Tổng bí thư Tô Lâm có chuyến công tác sang Hoa Kỳ tháng 02/2026 các thế lực thù địch đã tung ra nhiều luận điệu như: “Việt Nam đã chọn phe”, “Việt Nam đang chuyển hóa thể chế”, hay “Đổi mới chỉ là bước đệm để đổi màu chính trị”. Thực chất, đây là kiểu lập luận phiến diện, cố tình đánh đồng hội nhập quốc tế với thay đổi bản chất chế độ nhằm gây hoang mang về đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng và Nhà nước ta.
Các thế lực thù địch, phản động còn cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam “độc quyền lãnh đạo”, “cản trở dân chủ”… Từ đó, chúng cổ súy cho mô hình đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Đây là âm mưu từng bước xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, làm suy yếu hệ thống chính trị và phá vỡ sự ổn định chính trị - xã hội của đất nước.
Thứ hai, phủ nhận giá trị khoa học của đường lối đổi mới
Song song với việc công kích mục tiêu cách mạng, các thế lực chống phá còn tập trung phủ nhận tính khoa học của nền tảng tư tưởng của Đảng. Chúng rêu rao rằng chủ nghĩa Mác - Lênin đã “lỗi thời”, “không còn phù hợp với thời đại kinh tế tri thức và công nghệ số”. Cùng với đó, chúng còn tăng cường xuyên tạc di sản Hồ Chí Minh với luận điệu: “No Ho”, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin… Từ đó, xuyên tạc những thành tựu của Việt Nam đạt được là do “thoát ly mô hình xã hội chủ nghĩa”.
Một số bài viết trên diễn đàn chống cộng còn cố tình lồng ghép các đánh giá phiến diện về mô hình phát triển của Việt Nam, quy kết rằng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là “mâu thuẫn nội tại”, “không thể tồn tại lâu dài”. Thậm chí, có những luận điệu cực đoan cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ “đổi mới kinh tế để duy trì quyền lực chính trị”.
Nguy hiểm hơn, chúng còn lợi dụng những hạn chế, bất cập trong quản lý kinh tế, các vụ việc tham nhũng hay tiêu cực xã hội để quy chụp rằng đường lối đổi mới là “sai lầm về mô hình phát triển”. Đây là kiểu ngụy biện cố tình tách rời hiện tượng khỏi bản chất, lấy những tồn tại mang tính cục bộ để phủ nhận toàn bộ thành tựu 40 năm đổi mới của Việt Nam.
Thứ ba, xuyên tạc giá trị nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Dưới chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “tự do báo chí”, các thế lực thù địch tìm mọi cách phủ nhận bản chất tốt đẹp của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chúng cho rằng Việt Nam “vi phạm nhân quyền”, “đàn áp tự do ngôn luận”, “không có dân chủ”, “không có tự do tôn giáo”, từ đó kích động tư tưởng chống đối trong xã hội.
Thông qua mạng xã hội và các hội nhóm chống phá như “Hội Anh em dân chủ”, “Nhà xuất bản Tự do”, các hãng thông tấn nước ngoài như BBC, VOA… nhiều đối tượng thường xuyên cắt ghép thông tin, bóp méo các vụ việc liên quan đến đất đai, khiếu kiện, phòng chống tham nhũng hoặc xử lý các vi phạm pháp luật để vu cáo Nhà nước “đàn áp người dân”. Một số báo cáo thiếu khách quan của các tổ chức quốc tế còn cố tình bỏ qua những thành tựu nổi bật của Việt Nam về giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, quyền tiếp cận giáo dục, y tế và quyền phát triển con người.
Đặc biệt, nhiều tài khoản vẫn xuyên tạc, quy kết rằng Nhà nước “vi phạm dân chủ, nhân quyền” như Tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW), BBC News Tiếng Việt... Các hành vi này diễn ra trên không gian mạng, diễn đàn, đối thoại, tiếp công dân, hội họp… với những chiêu thức tinh vi, núp bóng “phản biện xã hội”, “bày tỏ chính kiến cá nhân”. Đây là biểu hiện rõ nét của âm mưu lợi dụng vấn đề nhân quyền để chống phá chế độ.
Thứ tư, tình trạng xuyên tạc thành tựu của đường lối đổi mới, tin giả.
Một trong những phương thức chống phá phổ biến hiện nay là “giải cấu trúc lịch sử” thông qua mạng xã hội và các nền tảng truyền thông số. Các thế lực thù địch cố tình bóp méo lịch sử cách mạng Việt Nam, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, xuyên tạc thành tựu của công cuộc đổi mới nhằm làm lung lay niềm tin của nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ.
Thủ đoạn thường thấy là “cắt lát lịch sử”, chỉ lựa chọn những khó khăn, hạn chế hoặc sai lầm trong từng giai đoạn để phủ nhận toàn bộ giá trị của tiến trình đổi mới. Ngoài ra còn sử dụng AI để cắt ghép hình ảnh, phát ngôn của lãnh đạo Đảng, Nhà nước; tạo dựng các video giả mạo, lồng ghép thông tin đúng với những luận điệu sai trái nhằm đánh vào tâm lý hoài nghi của người tiếp nhận từ đó xuyên tạc, phủ nhận những giá trị cốt lõi của đường lối đổi mới.
Tóm lại, mọi âm mưu xuyên tạc về bản chất của đường lối đổi mới đều nhằm mục đích cuối cùng là gây mất ổn định chính trị và xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, chống phá Nhà nước nhằm cản trở hoặc làm sụp đổ chế độ chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đang xây dựng. Nhận diện đúng những quan điểm sai trái này chính là yếu tố quan trọng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và giữ vững định hướng phát triển của đất nước, đồng thời khẳng định tính cách mạng, khoa học và nhân văn của đường lối đổi mới hiện nay.
2.2.2. Phản bác các luận điệu xuyên tạc giá trị cách mạng, khoa học và nhân văn trong đường lối đổi mới của Đảng
Thứ nhất, cơ sở lý luận
Về bản chất, công cuộc đổi mới ở Việt Nam không phải là sự thay đổi mục tiêu cách mạng, mà là quá trình vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện lịch sử mới. Chủ nghĩa Mác - Lênin chưa bao giờ là hệ thống giáo điều bất biến, trái lại giá trị khoa học và cách mạng của học thuyết này nằm ở khả năng luôn được bổ sung, phát triển từ thực tiễn.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Chủ nghĩa Mác - Lênin là kim chỉ nam cho hành động, chứ không phải là kinh thánh” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 7, tr.120). Vì vậy, đổi mới tư duy kinh tế, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hay mở rộng hội nhập quốc tế chính là sự vận dụng sáng tạo quy luật phát triển của thời đại, chứ không phải sự phủ nhận con đường xã hội chủ nghĩa. Người còn nói rõ: “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải có con người xã hội chủ nghĩa” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 12, tr.11). Điều đó cho thấy mục tiêu cao nhất của cách mạng Việt Nam không chỉ là phát triển kinh tế, mà còn là giải phóng con người, bảo đảm hạnh phúc của Nhân dân và xây dựng một xã hội công bằng, tiến bộ, nhân văn.
Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà là làm cho chủ nghĩa xã hội được nhận thức đúng hơn và xây dựng có hiệu quả hơn” (Nguyễn Phú Trọng, 2022, tr.24).
Trên cơ sở tư tưởng đó, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục kế thừa và phát triển tư duy đổi mới trong Văn kiện Đại hội XIV: “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; tự chủ chiến lược, đổi mới mô hình phát triển, lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước, nâng cao đời sống và hạnh phúc của Nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” (ĐCSVN, 2026, tr.372)
Đây là cơ sở lý luận quan trọng để phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu cho rằng đổi mới là “đổi màu” hay “từ bỏ chủ nghĩa xã hội”.
Thứ hai, cơ sở chính trị - pháp lý
Đường lối đổi mới của Đảng được khẳng định nhất quán qua các kỳ Đại hội Đảng, từ Đại hội VI (1986) đến Đại hội XIII và tiếp tục được phát triển trong Văn kiện Đại hội XIV. Đó là kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; đồng thời chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc.
Hiến pháp năm 2013 xác định rõ: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Điều đó khẳng định bản chất dân chủ và nhân văn của chế độ chính trị ở Việt Nam, hoàn toàn trái ngược với các luận điệu vu cáo về “độc tài” hay “thiếu dân chủ”.
Bên cạnh đó, Việt Nam đã tham gia hầu hết các công ước quốc tế cơ bản về quyền con người của Liên hợp quốc; đồng thời hai lần được bầu vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc với số phiếu tín nhiệm cao. Đây là minh chứng quan trọng cho sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người.
Thứ ba, cơ sở thực tiễn
Thực tiễn 40 năm đổi mới là minh chứng sinh động và thuyết phục nhất bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc. Từ một quốc gia lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội với lạm phát hơn 774,7% năm 1986, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng năng động hàng đầu khu vực. Việc chuyển sang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã nhanh chóng đưa nền kinh tế thoát khỏi trì trệ, ổn định đời sống nhân dân và mở rộng hội nhập quốc tế với con số ấn tượng: “có quan hệ ngoại giao với 195 quốc gia và vùng lãnh thổ, có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với 38 quốc gia, trong đó có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với cả 5 nước Uỷ viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và nhiều tổ chức uy tín trên thế giới” (ĐCSVN, 2026, tr.145-147).
Không chỉ thành công về kinh tế, Việt Nam còn đạt nhiều thành tựu nổi bật về khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Theo Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), năm 2024 Việt Nam xếp thứ 44/133 quốc gia về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII), thuộc nhóm các nước có thành tích vượt trội so với trình độ phát triển. Đây là minh chứng rõ nét cho giá trị khoa học của đường lối đổi mới và tư duy quản trị quốc gia hiện đại.
Trên phương diện nhân văn, Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong những quốc gia thành công về giảm nghèo, mở rộng tiếp cận giáo dục, chăm sóc y tế và bảo đảm an sinh xã hội. Trong đại dịch COVID-19, chính sách “không để ai bị bỏ lại phía sau” cùng các gói hỗ trợ người dân, người lao động và doanh nghiệp đã thể hiện bản chất nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Tựu chung lại, những luận cứ về lý luận khoa học, cơ sở chính trị - pháp lý vững chắc cùng những thành tựu thực tiễn sau 40 năm đổi mới không chỉ là lời khẳng định đanh thép về tính đúng đắn của con đường mà Đảng và Nhân dân ta đã chọn, mà còn là vũ khí lý luận sắc bén nhất để đập tan mọi âm mưu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Thực tiễn đã minh chứng rằng, đổi mới không phải là sự thỏa hiệp về tư tưởng hay “đổi màu” về chính trị, mà là một cuộc cách mạng mang tầm vóc thời đại, nơi trí tuệ khoa học kết tinh cùng bản lĩnh cách mạng và giá trị nhân văn cao cả. Việc nhận diện đúng và phản bác kịp thời các quan điểm sai trái không chỉ giúp bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, mà còn củng cố niềm tin sắt đá của Nhân dân vào con đường xã hội chủ nghĩa, một lựa chọn tất yếu của lịch sử, đảm bảo cho sự phát triển trường tồn và nhân văn của dân tộc Việt Nam.
2.3. Phát huy giá trị cách mạng, khoa học và nhân văn của đường lối đổi mới trong “Kỷ nguyên vươn mình” của dân tộc
2.3.1. Kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng là cơ sở bảo đảm định hướng đúng đắn cho sự nghiệp đổi mới
Thực tiễn 40 năm đổi mới đã khẳng định rằng mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều gắn liền với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam trên nền tảng kiên định Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới. Đây không chỉ là cơ sở lý luận và kim chỉ nam cho hành động của Đảng mà còn là nền tảng tư tưởng bảo đảm cho công cuộc đổi mới phát triển đúng hướng trong mọi hoàn cảnh lịch sử.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và bùng nổ thông tin hiện nay, các thế lực thù địch ngày càng đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chúng tìm cách xuyên tạc rằng đổi mới đồng nghĩa với từ bỏ chủ nghĩa xã hội hoặc cổ súy cho quan điểm “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” như một mô hình phát triển tất yếu. Tuy nhiên, thực tiễn lịch sử đã chứng minh rằng chính sự kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng là nhân tố quyết định giúp Việt Nam giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm độc lập, chủ quyền quốc gia và tạo lập môi trường hòa bình để phát triển đất nước.
Kiên định không có nghĩa là bảo thủ, giáo điều mà là kiên định mục tiêu, nguyên tắc cốt lõi đồng thời vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào thực tiễn mới. Đó cũng chính là bản chất cách mạng và khoa học của đường lối đổi mới. Trong kỷ nguyên số, yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục phát triển sáng tạo lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị; xây dựng bản lĩnh chính trị, năng lực phản biện và “sức đề kháng tư tưởng” cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ trước những tác động đa chiều của môi trường mạng xã hội.
2.3.2. Phát huy giá trị cách mạng, khoa học và nhân văn của đường lối đổi mới trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đặt ra không chỉ là kế thừa những thành tựu của 40 năm đổi mới mà quan trọng hơn là tiếp tục phát huy các giá trị cách mạng, khoa học và nhân văn của đường lối đổi mới để tạo động lực cho sự phát triển nhanh và bền vững. Để thực hiện mục tiêu này, việc phát huy ba giá trị cốt lõi của đường lối đổi mới được thể hiện: Trước hết, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đồng thời phát triển lên tầm cao mới thông qua tư duy tự chủ chiến lược dựa trên 5 trụ cột then chốt: chính trị, kinh tế, văn hóa - con người, khoa học - công nghệ và quốc phòng - an ninh. Đó là tư duy chủ động, năng lực độc lập, tự chủ hoạch định, dẫn dắt, kiến tạo sự ổn định, phát triển bền vững trên tất các lĩnh vực của đất nước để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Kế đến, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và quản trị hiện đại là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới. Cuối cùng, phát huy vai trò chủ thể của nhân dân, lấy dân làm gốc, lấy hạnh phúc, sự hài lòng của nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu, khẳng định con người là trung tâm, là chủ thể và là động lực quan trọng nhất của sự phát triển. Định hướng phát triển không chạy theo tăng trưởng bằng mọi giá mà gắn chặt với tiến bộ và công bằng xã hội.
Những định hướng đó không chỉ thể hiện sự kế thừa và phát triển tư duy đổi mới của Đảng trong điều kiện mới mà còn là cơ sở quan trọng để Đại hội XIV của Đảng xác định rõ tầm nhìn và các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mang tính đột phá cho giai đoạn 2026-2030: phấn đấu tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026-2030 đạt từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD; tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 28% GDP; đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt trên 55% (ĐCSVN, 2026, tr.376). Những mục tiêu đó phản ánh tư duy phát triển mới của Đảng về định hướng: “Phát triển nhanh, bền vững đất nước; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc” (ĐCSVN, 2026, tr.12). Điều này cho thấy nhận thức của Đảng về đổi mới không chỉ dừng ở yêu cầu phát triển kinh tế, mà đã mở rộng sang yêu cầu nâng cao năng lực thích ứng và sức chống chịu của quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược và chuyển đổi số toàn cầu.
Đặc biệt, Đại hội XIV của Đảng khẳng định yêu cầu xuyên suốt là phải “giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa” (ĐCSVN, 2026, tr.18). Qua đó cho thấy phát triển kinh tế trong kỷ nguyên mới không tách rời nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Không chỉ đặt ra mục tiêu tăng trưởng kinh tế, Văn kiện Đại hội XIV còn đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu phát triển con người toàn diện, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển. Các chỉ tiêu về xã hội như chỉ số phát triển con người (HDI) đạt khoảng 0,8; tuổi thọ trung bình đạt 75,5 tuổi; tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm xuống dưới 20% (ĐCSVN, 2026, tr.375) cho thấy định hướng phát triển của Việt Nam không chạy theo tăng trưởng bằng mọi giá, mà hướng tới nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu cao nhất.
Tóm lại, việc phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị dựa trên các giá trị cách mạng, khoa học và nhân văn chính là chìa khóa để Việt Nam giữ vững ổn định chính trị và định hướng phát triển đất nước, là động lực khơi dậy khát vọng, ý chí tự cường và tinh thần đổi mới sáng tạo của toàn dân tộc.
2.3.3. Đổi mới công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên môi trường mạng xã hội
Nghị quyết Đại hội XIV đã bổ sung “lý luận về đường lối đổi mới” là một bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thế nên bảo vệ giá trị cốt lõi trong đường lối đổi mới của đảng cũng chính là nội dụng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Nghị quyết cũng khẳng định cần “tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác tư tưởng, tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của đảng” (ĐCSVN, 2026, tr.283). Do đó, trong điều kiện hiện nay, quá trình phát huy các giá trị cách mạng, khoa học và nhân văn của đường lối đổi mới cũng đang đứng trước nhiều nguy cơ và thách thức mới. Với sự bùng nổ của công nghệ số, không gian mạng vừa mở ra cơ hội to lớn để lan tỏa khát vọng phát triển dân tộc, vừa trở thành môi trường để các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị gia tăng hoạt động chống phá, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, phủ nhận thành tựu đổi mới và gieo rắc tâm lý hoài nghi trong xã hội. Đồng thời, không gian mạng hiện trở thành môi trường tác động mạnh đến nhận thức xã hội, nơi các thông tin chính thống và thông tin sai lệch cùng tồn tại với tốc độ lan truyền rất nhanh. Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo hướng chủ động, hiện đại và phù hợp với đặc điểm của thời đại số. Thế nên, nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là nhiệm vụ của các lực lượng chuyên trách, cơ quan lý luận, báo chí mà là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị “của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân” (Bộ Chính trị, 2018, tr.2).
Do đó, cần đổi mới mạnh mẽ phương thức đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo hướng chủ động, hiện đại và phù hợp với đặc điểm của truyền thông số, môi trường mạng xã hội. Thay vì chỉ tập trung phản bác thông tin sai trái một cách bị động, cần chuyển mạnh sang tư duy “kiến tạo niềm tin”, lan tỏa thông tin tích cực và xây dựng hệ sinh thái truyền thông chính luận hấp dẫn trên các nền tảng số mà điểm cầu chính là nền tảng của các cơ quan bá chí, truyền thông chính thống của Đảng và Nhà nước, bộ, ngành, địa phương. Xây dựng đội ngũ cán bộ vừa “hồng” vừa “chuyên” không chỉ là yêu cầu về đạo đức mà còn là năng lực thực thi nhiệm vụ trong kỷ nguyên số. Trong đó, tính “hồng” thể hiện ở bản lĩnh chính trị kiên định, tính “chuyên” thể hiện ở năng lực quản trị hiện đại và tư duy đổi mới sáng tạo. Khi mỗi cán bộ trở thành một “hạt nhân” lan tỏa giá trị tích cực, họ chính là thành trì vững chắc nhất ngăn chặn sự xâm nhập của các luồng tư tưởng độc hại ngay từ cơ sở như chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 5, tr.309).
Cùng với đó, cần phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ, trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ, người có ảnh hưởng tích cực trên mạng xã hội trong việc lan tỏa, chia sẻ các thông tin từ các kênh chính thống, các thông tin có giá trị tích cực, truyền cảm hứng về khát vọng phát triển đất nước và củng cố niềm tin xã hội. Tiếp tục quán triệt và triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị khoá XII về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Đồng thời, tận dụng tối ưu khoa học công nghệ, làm chủ dữ liệu lớn (Big Data) và trí tuệ nhân tạo (AI) để nhận diện, phân tích và ngăn chặn từ gốc các nguồn tin rác, tin giả kết hợp với nâng cao năng lực số, kỹ năng nhận diện thông tin giả và khả năng phản biện xã hội cho người dân, đặc biệt là thanh niên, sinh viên, học sinh, lực lượng chịu tác động mạnh mẽ nhất của môi trường mạng xã hội hiện nay.
Trong bối cảnh phát triển hiện nay đang mở ra những cơ hội lớn nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức mới. Do đó, bảo vệ, kiên định và phát huy giá trị cách mạng, khoa học và nhân văn của đường lối đổi mới chính là điều kiện tiên quyết để Việt Nam tiếp tục phát triển nhanh, bền vững và hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
3. Kết luận
Thực tiễn đổi mới đã khẳng định sự kiên định, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận đường lối đổi mới là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đường lối đổi mới không chỉ là sự điều chỉnh phương thức phát triển, mà là thành tựu lý luận đặc sắc của Đảng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; kết tinh giá trị cách mạng, khoa học và nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những thành tựu nổi bật về kinh tế, chính trị, đối ngoại, phát triển con người và ổn định xã hội sau chặng đường đổi mới là minh chứng thuyết phục khẳng định tính đúng đắn của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà dân tộc đã lựa chọn.
Thực tiễn đất nước không chỉ đặt ra yêu cầu là phát triển nhanh mà còn phải giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khơi dậy khát vọng phát triển đất nước bền vững, phồn vinh, hạnh phúc. Tiếp nối những thành quả tốt đẹp từ chặng đường 40 năm đổi mới, với thế và lực đang không ngừng được nâng tầm, cùng bản lĩnh chính trị, trí tuệ và khát vọng phát triển của toàn dân tộc, Việt Nam tiếp tục vững tin theo đuổi mục tiêu phát triển trong giai đoạn mới, giai đoạn tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam./.
Thạc sĩ Nguyễn Văn Tấn
-----------------------
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Chính trị. (2018). Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
2. Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng. (2024). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa trên môi trường mạng xã hội. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIVp (Tập I, II). Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
5. Hồ Chí Minh. (2011). Hồ Chí Minh toàn tập (Tập 5, 7, 12). Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
6. Hội đồng Lý luận Trung ương. (2023). Phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
7. Nguyễn Phú Trọng. (2022). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
8. Tổng cục Thống kê. (2026). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025. Tại https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2026/01/bao-cao-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-iv-va-nam-2025/ [truy cập ngày 11/5/2026].