Trang thông tin điện tử Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Cần Thơ

http://btgdv.cantho.gov.vn


Từ ý chí độc lập, tự chủ trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến tư duy tự chủ chiến lược theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là mốc son chói lọi, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của ý chí độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Ngày nay, trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, phức tạp, khó lường, Đảng ta kế thừa và phát triển tư tưởng độc lập, tự chủ thành yêu cầu xây dựng nền tự chủ chiến lược quốc gia, tạo nền tảng đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

Ý chí độc lập, tự chủ - giá trị cốt lõi của Cách mạng Tháng Tám

Trước Cách mạng Tháng Tám, Việt Nam đã trải qua gần 80 năm dưới ách cai trị của thực dân Pháp. Với chính sách chia để trị cùng chương trình khai thác thuộc địa tàn bạo, thực dân Pháp đã vơ vét tài nguyên và nông sản, khiến nền kinh tế Việt Nam trở nên lạc hậu, mất cân đối và xã hội phân hóa sâu sắc. Tháng 9-1940, phát xít Nhật tiến vào Đông Dương, cấu kết với thực dân Pháp để cùng bóc lột, đẩy người dân vào cảnh cùng cực “một cổ hai tròng”, đỉnh điểm là nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu 1945, khiến khoảng 2 triệu người dân ở miền Bắc chết đói. Trong hoàn cảnh đó, khát vọng độc lập, tự do đã trở thành mục tiêu sống còn, cấp bách và thiêng liêng hơn bao giờ hết đối với dân tộc Việt Nam. Đây chính là nguồn động lực nội sinh to lớn, để nhân dân Việt Nam tiến lên, lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp - phát xít Nhật với cuộc cách mạng vĩ đại - Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Với tinh thần đó, ý chí độc lập, tự chủ trong Cách mạng Tháng Tám được thể hiện ở những khía cạnh sau:

19 8 anh1

Nhân dân Thủ đô Hà Nội họp mít tinh tại Quảng trường Nhà hát Lớn ủng hộ Chính phủ Liên hiệp lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu (1-1-1946). Ảnh: TTXVN.

Quyền tự quyết của dân tộc và chủ quyền quốc gia

Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C. Mác và Ph.Ăng-ghen nhấn mạnh: “Giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc”(1). Lập luận đó khẳng định, mỗi đảng cách mạng phải chịu trách nhiệm trước vận mệnh của dân tộc mình; giai cấp vô sản của từng quốc gia, dân tộc trước khi hoàn thành sứ mệnh lịch sử thế giới, phải hoàn thành sứ mệnh lịch sử với chính dân tộc mình. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 được đánh giá là một trong những trang sử chói lọi nhất của lịch sử Việt Nam hiện đại, khi lần đầu tiên, nhân dân ta đã tự mình đứng lên lật đổ chế độ phong kiến hàng nghìn năm, đánh đổ ách thống trị tàn bạo gần một trăm năm của thực dân Pháp và ách thống trị của phát xít Nhật, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc; đưa Việt Nam từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến trở thành một quốc gia độc lập, có chủ quyền thực sự.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”(2). Quyết định giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước Đông Dương đã khơi dậy tinh thần dân tộc, ý thức độc lập, tự do, tinh thần tự lực, tự cường trong nhân dân mỗi nước. Đây cũng chính là cơ sở cho sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; khẳng định khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam, một dân tộc có ý thức sâu sắc về lịch sử, chủ quyền lãnh thổ, truyền thống văn hóa. Do vậy, song song với quá trình chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền, Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã chuẩn bị các điều kiện cho sự ra đời của Nhà nước Việt Nam độc lập vào ngày 2-9-1945. Đó là nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, nơi người dân được làm chủ, quyết định vận mệnh của quốc gia mà không lệ thuộc vào bất kỳ thế lực nào. Chính quyền cách mạng của nước Việt Nam độc lập không thuộc quyền riêng của một giai cấp nào mà là của chung cả toàn thể dân tộc, ai là người dân sống trên dải đất Việt Nam đều có quyền và nghĩa vụ giữ lấy và bảo vệ chính quyền ấy. Đây chính là cơ sở hợp pháp cho tất cả các cải cách chính trị, kinh tế và xã hội, bảo đảm rằng hướng đi của quốc gia sẽ được dẫn dắt bởi khát vọng của chính nhân dân quốc gia đó.

Đặt lợi ích dân tộc lên trên hết

Chiến tranh thế giới diễn biến hết sức mau lẹ, tác động ngày càng lớn và tạo thuận lợi cho cách mạng Việt Nam với những tình thế cách mạng và thời cơ khởi nghĩa. Tình hình đó đòi hỏi Đảng phải có những chủ trương và quyết định đúng đắn, sáng tạo, kịp thời để đón bắt khi thời cơ đến. Ngày 28-1-1941, sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Từ ngày 10 đến ngày 19-5-1941, dưới sự chủ trì của Người, Hội nghị Trung ương lần thứ tám đã họp tại Pác Bó (Cao Bằng). Hội nghị quyết định thay đổi chiến lược: “Cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề: phản đế và điền địa, mà là cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp “dân tộc giải phóng””(3). Từ đó, Hội nghị đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu: “… trong giai đoạn hiện tại, quốc gia trước hết, thì tất thảy những yêu sách của bộ phận mà có hại đến quyền lợi của toàn thể, của giai cấp mà có hại đến quyền lợi của dân tộc, thì phải gác lại để giải quyết sau. Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”(4). Quyết định đúng đắn, kịp thời đó đã đáp ứng được yêu cầu bức thiết của toàn thể dân tộc là đánh đổ ách áp bức của thực dân, phát xít Pháp - Nhật và tay sai phản động để giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do.

Từ quyết định thay đổi chiến lược, Đảng chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trên cơ sở quyền dân tộc tự quyết của các dân tộc Đông Dương: “Nói đến vấn đề dân tộc tức là đã nói đến sự tự do, độc lập của mỗi dân tộc tùy theo ý muốn của mỗi dân tộc. Nói như thế nghĩa là sau lúc đánh đuổi Pháp - Nhật, ta phải thi hành đúng chính sách “dân tộc tự quyết” cho dân tộc Đông Dương. Các dân tộc sống trên cõi Đông Dương sẽ tùy theo ý muốn, tổ chức thành liên bang cộng hòa dân chủ hay đứng riêng thành một dân tộc quốc gia tùy ý”(5).

Phát huy sức mạnh toàn dân

Thực tiễn và lý luận cách mạng khẳng định, thành công của bất kỳ cuộc khởi nghĩa hay cách mạng không phụ thuộc vào cá nhân kiệt xuất mà dựa vào lực lượng của quần chúng nhân dân. Nhưng lực lượng đó phải được khơi dậy, tập hợp, đoàn kết lại trong thực tiễn đấu tranh cách mạng với nhiều hình thức phù hợp, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đảng chủ trương xây dựng khối liên minh công - nông vững chắc làm nền tảng khơi dậy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong Cách mạng Tháng Tám. Tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ sáu (tháng 11-1939), Đảng đã khẳng định: “Lực lượng chính của cách mệnh là công nông dựa vào các tầng lớp trung sản thành thị, thôn quê và đồng minh trong chốc lát hoặc trung lập giai cấp tư sản bổn xứ, trung tiểu địa chủ”(6). Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ bảy (tháng 11-1940) tiếp tục khẳng định chủ lực cách mạng là vô sản giai cấp, lực lượng trực tiếp hàng đầu là trung, bần nông và các giai tầng khác. Theo đó, “vô sản giai cấp phải mật thiết liên lạc với bần nông, liên minh với trung nông và tiểu tư sản thành thị, bắt tay tư sản bản xứ và địa chủ phản đế, biến họ thành những lực lượng... của cuộc cách mạng tư sản dân quyền, của mặt trận phản đế”(7). Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám (tháng 5-1941) đã quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh để tập hợp mọi giai tầng, chuẩn bị lực lượng đông đảo cho khởi nghĩa giành chính quyền. Tuyên ngôn của Mặt trận Việt Minh nêu rõ: “chủ trương liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, trai gái, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn”(8).

Khi thời cơ cách mạng đã chín muồi, mở đầu “Thư kêu gọi tổng khởi nghĩa” ngày 18-8-1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh viết: “Bốn năm trước đây, tôi có thư kêu gọi đồng bào ta đoàn kết. Vì có đoàn kết mới có lực lượng, có lực lượng mới giành được ĐỘC LẬP, TỰ DO… Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta. Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành quyền độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ. Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!”(9).

Đáp lại lời kêu gọi, trong vòng 15 ngày cuối tháng Tám (từ ngày 14-8 đến ngày 28-8-1945), dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, hơn 25 triệu đồng bào cả nước với khí thế và sức mạnh “dời non lấp biển”, đã nhất tề đứng dậy, thông qua nhiều hình thức đấu tranh đã vùng lên giành chính quyền, Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi hoàn toàn. 

Tự lực, tự cường giành chính quyền

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không phải là cuộc đấu tranh mang tính tự phát, mà là kết quả của một quá trình chuẩn bị lâu dài, kiên trì, bền bỉ trong suốt 15 năm kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, với định hướng chiến lược rõ ràng trên các lĩnh vực chính trị, tổ chức, lực lượng vũ trang, căn cứ địa, cơ sở quần chúng... Quá trình đó đã tạo nên thế và lực cho cách mạng, bảo đảm cho cuộc Tổng khởi nghĩa diễn ra đồng loạt, thắng lợi nhanh chóng và ít đổ máu.

Qua các cao trào cách mạng 1930 - 1931, 1936 - 1939 và đặc biệt là giai đoạn 1939 - 1945, phong trào cách mạng phát triển rộng khắp trong quần chúng nhân dân; đội ngũ cán bộ, đảng viên và những người hoạt động cách mạng đã không ngừng trưởng thành, dày dạn kinh nghiệm đấu tranh, có khả năng tổ chức, vận động quần chúng một cách hiệu quả. Các tổ chức quần chúng do Đảng lãnh đạo được hình thành ở khắp các địa phương, Mặt trận Việt Minh tập hợp mọi lực lượng yêu nước, tạo nên khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đáp ứng yêu cầu của cách mạng. Lực lượng vũ trang ngày càng phát triển từ các đội tự vệ, du kích đến sự ra đời của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, được rèn luyện trong môi trường chiến đấu, có lý tưởng và tổ chức chặt chẽ, đã trở thành nòng cốt của lực lượng quân sự trong tổng khởi nghĩa. Các đội du kích hoạt động ở vùng nông thôn, miền núi không chỉ làm nhiệm vụ vũ trang tuyên truyền, mà còn giúp bảo vệ cơ sở cách mạng, đánh địch, gây dựng phong trào. Hệ thống căn cứ địa cách mạng cũng được Đảng đặc biệt chú trọng xây dựng, đây là những “pháo đài cách mạng” vững chắc, là nơi trú ẩn, tập kết lực lượng, xây dựng cơ sở, tổ chức huấn luyện, in ấn tài liệu, đào tạo cán bộ, cất giấu vũ khí và lương thực... góp phần quan trọng vào sự thành công của tổng khởi nghĩa.

Bên cạnh đó, công tác chuẩn bị về tư tưởng, nhận thức cho quần chúng nhân dân cũng được Đảng đặc biệt coi trọng. Các hoạt động tuyên truyền cách mạng nhằm giáo dục chính trị và rèn luyện tinh thần chiến đấu cho người dân được thực hiện thường xuyên, bằng nhiều hình thức linh hoạt trong bối cảnh phải đối mặt với nhiều thủ đoạn tàn độc của kẻ thù. Khát vọng độc lập, tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã thấm sâu vào trái tim và khối óc mỗi người dân, trở thành động lực mạnh mẽ để họ vượt qua mọi gian khổ, hy sinh. Có thể khẳng định, quá trình chuẩn bị toàn diện, có hệ thống và bài bản cho tổng khởi nghĩa đã tạo thời cơ, thúc đẩy thời cơ chín muồi để Cách mạng Tháng Tám năm 1945 nổ ra và giành thắng lợi nhanh chóng, trọn vẹn trong vòng nửa tháng.

Chủ động nắm bắt thời cơ lịch sử

Một trong những yếu tố quan trọng làm nên thắng lợi lịch sử Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là Đảng đã dự đoán đúng thời cơ và đưa ra những quyết định kịp thời, nắm bắt “thời cơ ngàn năm có một” để giành chính quyền một cách nhanh chóng và hiệu quả. Đêm 9-3-1945, phát xít Nhật đảo chính thực dân Pháp ở Hà Nội và nhiều địa phương; ngay trong đêm, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương mở rộng đã quyết định phát động một cao trào cách mạng làm tiền đề cho tổng khởi nghĩa, thay đổi các hình thức tuyên truyền, cổ động, tổ chức và đấu tranh cho thích hợp. Sau đó, Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, khẳng định “Đây là thời cơ tốt để nhân dân ta vùng lên giành độc lập”. Cuối tháng 3-1945, cao trào khởi nghĩa diễn ra gần như đồng loạt ở nhiều địa phương; khởi nghĩa từng phần đã giành thắng lợi, chính quyền cách mạng được thành lập ở nhiều xã, huyện miền Bắc và miền Trung. Khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh, Đảng ta nhận định, điều kiện chủ quan và khách quan hội tụ, thời cơ cách mạng đã chín muồi. Thời cơ cách mạng chỉ tồn tại từ khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh đến trước khi quân Đồng minh vào Việt Nam. Đó là lúc kẻ thù cũ đã đứng im, nhưng kẻ thù mới chưa kịp đến, tạo nên tình thế so sánh lực lượng có lợi nhất cho cách mạng. Trung ương Đảng quyết định phát động và lãnh đạo toàn dân tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên phạm vi toàn quốc. Nhờ biết chớp thời cơ, cuộc Tổng khởi nghĩa đã diễn ra nhanh chóng, giành thắng lợi trên phạm vi cả nước, đập tan ách thống trị của thực dân Pháp, phát xít Nhật và phong kiến tay sai.

Quyết định phát động tổng khởi nghĩa vừa thể hiện tầm nhìn chiến lược, vừa cho thấy năng lực tổ chức chặt chẽ, chuẩn bị kỹ lưỡng của Đảng, bảo đảm phương châm “nhanh, gọn, chắc” của cuộc Tổng khởi nghĩa. Nhờ đó, chính quyền cách mạng được thiết lập khắp toàn quốc trong thời gian ngắn và không mất mát lớn về sinh lực, tài sản. Thành công của Cách mạng Tháng Tám đã chứng minh rằng, mọi cuộc cách mạng chỉ có thể thắng lợi khi biết tận dụng và “chớp” đúng thời điểm lịch sử.

19 8 anh2

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm, làm việc tại Học viện Kỹ thuật và Công nghệ an ninh, Bộ Công an_Ảnh: TTXVN.

Đại hội XIV - phát triển tư tưởng độc lập, tự chủ lên tự chủ chiến lược

Từ mùa Thu cách mạng năm 1945 đến Đại hội XIV của Đảng là một dòng chảy liên tục của tư tưởng độc lập - tự chủ - tự lực - tự cường, là hành trình vĩ đại của dân tộc Việt Nam từ nô lệ đến làm chủ, từ nghèo nàn đến phát triển, từ chiến tranh đến hòa bình, từ khát vọng độc lập đến khát vọng hùng cường. Nếu như Cách mạng Tháng Tám khẳng định quyền độc lập của dân tộc thì Đại hội XIV đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực tự chủ chiến lược để phát triển đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh chiến lược. Tự chủ chiến lược chính là sự kế thừa và phát triển sáng tạo ý chí độc lập, tự cường dân tộc, là điều kiện để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng trở thành nước phát triển, thu nhập cao, vững bước trong kỷ nguyên phát triển mới.

Đại hội XIV của Đảng đã nhấn mạnh: “Tinh thần xuyên suốt của nhiệm kỳ Đại hội XIV là: Tự chủ chiến lược, nắm chắc thời cơ, chung sức đồng lòng, vượt qua mọi thách thức, khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển; biến ý chí thành hành động, biến quyết sách thành kết quả cụ thể;...”(10). Theo đó, “tự chủ chiến lược” được tiếp cận với nội hàm rộng lớn, toàn diện, nhấn mạnh tính chủ động, tự cường và năng lực kiến tạo phát triển của quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng. Ý chí “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” trong Cách mạng Tháng Tám được phát triển thành tư duy “phát huy tối đa nội lực, tranh thủ hiệu quả ngoại lực” trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan điểm này cũng thể hiện bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”; từ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ đơn thuần sang bảo vệ toàn diện các lợi ích chiến lược quốc gia trong không gian thực và không gian số. Để thực hiện tự chủ chiến lược trong bối cảnh hiện nay, cần tập trung vào một số nội dung sau:

Thứ nhất, chủ động, sáng tạo trong việc xác định đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Yếu tố quyết định sự thành công vang dội của Cách mạng Tháng Tám chính là sự lãnh đạo đúng đắn, tài tình của Đảng, từ chuyển hướng chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu “cách mạng ruộng đất”; tập trung giải quyết vấn đề dân tộc trong phạm vi từng nước Đông Dương; nhạy bén nhận định, đánh giá tình hình và xác định chính xác kẻ thù cách mạng trong từng giai đoạn; nắm bắt thời cơ để phát động tổng khởi nghĩa, giành chính quyền trên phạm vi toàn quốc.

Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức mới trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng, cạnh tranh địa - chính trị ngày càng phức tạp, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số và các thách thức an ninh phi truyền thống,… Để không bị lỡ nhịp trong dòng chảy của thời đại, các chủ trương, chính sách được đề ra không chỉ giải quyết các vấn đề ngắn hạn, trước mắt, mà cần có tính chiến lược, tổng thể, phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới, đồng thời bảo đảm phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước. Do đó, cần năng lực tư duy chiến lược, dự báo tình hình dài hạn, khoa học, không để bị động, bất ngờ; từ đó đưa ra các quyết sách đúng đắn, kịp thời, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và hội nhập quốc tế sâu rộng của đất nước. Đồng thời, tích cực nắm bắt thời cơ, vận hội, thách thức trong kỷ nguyên mới của dân tộc, nhằm phát huy cao nhất tinh thần “tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc”, tạo xung lực mới, khí thế mới, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội cao để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay.

19 8 anh3

Xưởng sản xuất tại Công ty cà phê Trung Nguyên, Khu công nghiệp Vân Trung, tỉnh Bắc Ninh. Ảnh: TTXVN.

Thứ hai, chủ động tăng cường sức mạnh tổng hợp, tự lực, tự cường xây dựng và bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa. Trong mọi cuộc cách mạng, sức mạnh tổng hợp của quốc gia là yếu tố quan trọng bảo đảm cho thắng lợi. Sức mạnh quốc gia bao gồm sức mạnh vật chất và tinh thần, sức mạnh của truyền thống và hiện đại, sức mạnh cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại... gắn kết chặt chẽ giữa nguồn lực nội sinh, thời cơ cách mạng và các yếu tố thuận lợi của hoàn cảnh khách quan. Đồng thời, việc tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia cần được thực hiện trên cả chiều rộng và chiều sâu, từ Trung ương đến từng địa phương, từ chiến lược tổng thể đến các chính sách cụ thể, phù hợp với đặc điểm từng vùng, từng lĩnh vực; gắn với tăng cường xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam, Công an nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Tập trung xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, góp phần tăng cường sức mạnh quốc phòng và khả năng phòng thủ, bảo vệ Tổ quốc. Chú trọng xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh hiện đại, lưỡng dụng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; vừa góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội, vừa củng cố các tuyến phòng thủ biên giới, biển, đảo. Chủ động chuẩn bị về mọi mặt, sẵn sàng các phương án bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trong mọi tình huống. Thời cơ chỉ phát huy giá trị khi được chuẩn bị lực lượng đầy đủ, thế trận đã sẵn sàng và hành động được tổ chức nhịp nhàng, thống nhất.

Thứ ba, tin tưởng và phát huy sức mạnh đoàn kết của nhân dân. Trong mọi giai đoạn cách mạng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và đặt nhân dân vào vị trí trung tâm của mọi chính sách phát triển là một bài học sâu sắc, có ý nghĩa lâu dài. Đại đoàn kết là cội nguồn sức mạnh, tạo nền tảng cho sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước. Nếu các quyết sách được đưa ra đáp ứng mong muốn của người dân, chính sách đó mới có thể đi vào thực tiễn, đem lại hiệu quả cao nhất. Nhờ đó, niềm tin của nhân dân đối với cấp ủy, chính quyền được củng cố, sự đồng thuận trong xã hội được nâng cao. Đây chính là biểu hiện cụ thể của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được phát huy trong kỷ nguyên mới; từ đó mới có thể “tạo thế” - tạo dựng nền tảng chính trị - xã hội vững chắc. Nếu như trong chiến tranh, đại đoàn kết là yếu tố quyết định thắng lợi, thì trong hòa bình, đó là điều kiện bảo đảm cho sự phát triển bền vững. Đây chính là “sức mạnh mềm”, gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, tạo nền tảng cho đất nước thực hiện tự chủ chiến lược, góp phần hiện thực hóa khát vọng hùng cường trong kỷ nguyên mới. 

Thứ tư, phát huy sức mạnh con người Việt Nam, coi đây là nền tảng cốt lõi để đất nước nâng cao năng lực tự chủ lược trong bối cảnh thế giới biến động nhanh chóng và phức tạp. Trong giai đoạn mới, tự chủ chiến lược của mỗi quốc gia không chỉ được bảo đảm bằng tiềm lực kinh tế, quốc phòng hay khoa học - công nghệ, mà trước hết phải được xây dựng từ nguồn lực con người với các yếu tố cốt lõi như trí tuệ, ý chí, bản lĩnh, đạo đức và trách nhiệm. Nếu trong quá khứ, tự lực tự cường thể hiện qua ý chí chiến đấu, tinh thần hy sinh và vượt qua mọi khó khăn, thì trong thời đại ngày nay, tự lực, tự cường phải được thể hiện bằng bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn và trình độ khoa học - công nghệ, tư duy đổi mới sáng tạo và năng lực thích ứng, năng lực hội nhập quốc tế. Vì vậy, sức mạnh con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là sự kết tinh của lòng yêu nước, ý chí độc lập, tự cường, tinh thần đoàn kết, khát vọng phát triển và trình độ, năng lực, khả năng thích ứng, sáng tạo của mỗi người Việt Nam. Đây chính là nguồn lực nội sinh quan trọng nhất tạo động lực để đất nước nâng cao năng lực tự chủ, chủ động nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường trong kỷ nguyên mới.

Thứ năm, cần tư duy đột phá và tinh thần hành động trong giai đoạn phát triển mới. Trước yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, tư duy đột phá và tinh thần hành động cách mạng trở thành yêu cầu cấp thiết đối với mỗi cán bộ, đảng viên và toàn xã hội. Tư duy đột phá đòi hỏi tinh thần dám đổi mới, nhìn xa trông rộng, phát hiện và giải quyết những vấn đề mới bằng những cách tiếp cận sáng tạo, hiệu quả. Tinh thần hành động cách mạng thể hiện ở sự quyết liệt trong thực thi nhiệm vụ, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, nói đi đôi với làm, biến chủ trương thành kết quả cụ thể. Sự kết hợp giữa tư duy đột phá và hành động quyết liệt sẽ tạo động lực mạnh mẽ để khơi thông mọi nguồn lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược của mỗi quốc gia, góp phần hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước phát triển giàu mạnh, phồn vinh trong kỷ nguyên phát triển mới.

Hơn 80 năm trôi qua, nhưng âm hưởng của Cách mạng Tháng Tám vẫn vang vọng như một bản hùng ca bất diệt. Đó là bản anh hùng ca của ý chí độc lập - tự do, của lòng quả cảm và trí tuệ Việt Nam. Những bài học về ý chí tự chủ, tự cường của Cách mạng Tháng Tám là cơ sở, nền tảng, động lực to lớn tiếp thêm sức mạnh, niềm tin để chúng ta kiên định con đường phát triển độc lập, tự chủ gắn với hội nhập, bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia - dân tộc trong kỷ nguyên phát triển mới.

Phạm Thị Giang

PV theo https://www.tapchicongsan.org.vn

---------------------

(1) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr. 105
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 7, tr. 445
(3) (4) (5) (7) (8) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 7, tr. 119, 113, 113, 77, 461
(6) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 539 - 540
(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 595 - 596
(10) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. II, tr. 397


 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây