Trang thông tin điện tử Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Cần Thơ

http://btgdv.cantho.gov.vn


Kỷ niệm 60 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước, khẳng định chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” (17/7/1966 – 17/7/2026)

Là biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của Nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm thay đổi vận mệnh dân tộc Việt Nam, từ thân phận nô lệ trở thành dân tộc tự do, độc lập. Người đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về con đường cách mạng Việt Nam. Trong hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc đó, "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" là một luận điểm mang tầm chân lý, một chân lý bất hủ có ý nghĩa lý luận, thực tiễn và giá trị thời đại sâu sắc.
17 7 Bac
Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược tại Hà Nội, tháng 7 năm 1966. Ảnh tư liệu.

Sau Hiệp định Genève tháng 7/1954, đất nước tạm thời chia cắt thành hai miền, Đảng ta chủ trương thực hiện hai chiến lược cách mạng khác nhau: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ Nhân dân ở miền Nam. Ngày 17/7/1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi: “Chúng có thể đưa 50 vạn quân, 1 triệu quân hoặc nhiều hơn nữa... Chúng có thể dùng hàng nghìn máy bay tăng cường đánh phá miền Bắc. Nhưng chúng quyết không thể lay chuyển được chí khí sắt đá, quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của Nhân dân Việt Nam anh hùng... Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hay lâu hơn nữa; Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song Nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, Nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”1. Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh được đưa ra giữa lúc Nhân dân miền Bắc đang anh dũng chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mỹ - là sự nối tiếp và phát triển lôgic tất nhiên của tinh thần và ý chí "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" trong Tuyên ngôn độc lập. Với ý chí "Không có gì quý hơn độc lập, tự do", Nhân dân Việt Nam đã anh dũng, kiên cường chiến đấu hy sinh đánh thắng hai đế quốc to, trở thành dân tộc tiêu biểu cho lương tri của nhân loại trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới ở thế kỷ XX.
 
17 7 thu

Bản thảo “Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước”do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo, năm 1966. Ảnh: baotanglichsu.vn.

"Không có gì quý hơn độc lập, tự do" là một mệnh đề đấu tranh, đấu tranh cho chân lý trong quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và những nội dung trong mệnh đề đó mang giá trị thời đại sâu sắc:

Thứ nhất, độc lập, tự do là quyền dân tộc, quyền con người, là vấn đề đầu tiên và thiêng liêng, là "xuất phát điểm" đối với mọi dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới trên con đường đi tới phồn vinh và hạnh phúc. Có độc lập, tự do thì sẽ có tất cả; đất nước không thể phồn vinh, dân tộc không thể phát triển, Nhân dân không thể có cơm no, áo ấm và cuộc đời hạnh phúc nếu không có được độc lập, tự do. Độc lập, tự do của dân tộc; quyền được sống, quyền được mưu cầu hạnh phúc trong một đất nước độc lập, tự do là vô cùng quý giá và thiêng liêng. Không ai có thể tự cho mình cái quyền can thiệp, có quyền xâm phạm độc lập, tự do của các quốc gia dân tộc khác, càng không thể có quyền thực hiện sự can thiệp đó bằng vũ khí hủy diệt.

Thứ hai, muốn có độc lập, tự do thì các dân tộc bị áp bức không thể ngồi yên chờ đợi, càng không thể trông chờ vào sự "ban ơn" của các thế lực đế quốc, thực dân. Muốn có cuộc sống ấm no, hạnh phúc thực sự thì vấn đề quyết định trước hết là phải giành cho được độc lập, tự do, phải vùng lên xoá bỏ mọi gông xiềng, mọi sự áp bức, nô dịch. Quan điểm của Hồ Chí Minh về "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" chỉ ra rằng, tự ta phải cứu lấy mình, từng dân tộc phải đứng lên tự quyết định lấy vận mệnh của chính bản thân mình. Một dân tộc không thể có được độc lập, tự do, nếu dân tộc ấy không tự đứng lên để giải phóng cho mình, nếu dân tộc ấy không biết tự cứu lấy mình, không có con đường đấu tranh đúng. Độc lập, tự do của các quốc gia dân tộc là một giá trị cao quý và thiêng liêng, là "không có gì quý hơn", là kết quả đấu tranh liên tục, bền bỉ của cả dân tộc, của Nhân dân các quốc gia dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.

Thứ ba, khi độc lập, tự do bị xâm phạm thì cả dân tộc phải kiên quyết đứng lên chiến đấu đến cùng để giữ vững và bảo vệ nền độc lập và tự do ấy. Thể hiện ý chí quyết tâm bảo vệ độc lập, tự do trong những ngày đầu kháng chiến chống xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: "Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ"2. Để bảo vệ độc lập, tự do của dân tộc, Nhân dân Việt Nam đã chiến đấu kiên cường, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng với tinh thần "quyết tử để Tổ quốc quyết sinh"; với ý chí quyết chiến quyết thắng, Nhân dân Việt Nam "quyết không sợ", hễ còn một tên xâm lược trên đất nước, thì phải chiến đấu "quét sạch nó đi". Ý chí "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" đã thực sự là động lực tinh thần to lớn thôi thúc lớp lớp các thế hệ người Việt Nam lên đường chiến đấu chống kẻ thù của độc lập, tự do, làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ "chấn động địa cầu", làm nên Đại thắng mùa Xuân vĩ đại năm 1975, thu giang sơn về một mối, giành hoàn toàn độc lập, tự do cho dân tộc, tạo tiền đề đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Thứ tư, khi đã có độc lập, tự do thì phải quan tâm chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân, làm cho Nhân dân ngày càng hạnh phúc. Giá trị thực sự của độc lập, tự do chính là ở chỗ đó. Làm cách mạng là để giành độc lập, tự do cho Tổ quốc thì đồng thời cũng phải đem lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho Nhân dân; xây dựng chủ nghĩa xã hội là đưa Nhân dân lao động lên làm chủ, thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân trên thực tế, là làm cho mỗi người và cả dân tộc đều "sung sướng" và "tự do".

Hiện nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đang được tiến hành trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động sâu sắc, nhanh chóng và khó dự báo. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: “Cục diện thế giới đang chuyển biến nhanh, phức tạp chưa từng có theo hướng đa cực, đa trung tâm, đa tầng, phân mảnh và phân tuyến mạnh. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều thách thức mới. Các nước lớn và các trung tâm quyền lực tiếp tục điều chỉnh chiến lược, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh quyết liệt; xung đột, chiến tranh cục bộ, chạy đua vũ trang công nghệ cao diễn ra ở nhiều khu vực với mức độ ngày càng nguy hiểm, không loại trừ nguy cơ chiến tranh quy mô lớn”3. Bên cạnh đó, các thách thức an ninh phi truyền thống như biến đổi khí hậu, an ninh mạng, an ninh nguồn nước, an ninh năng lượng, an ninh dữ liệu và dịch bệnh toàn cầu tiếp tục tác động mạnh mẽ đến môi trường hòa bình, ổn định và phát triển của các quốc gia.

Đối với Việt Nam, “Sau 40 năm đổi mới, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước được nâng lên, là nền tảng quan trọng để đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới”4. Đây là tiền đề quan trọng để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, đồng thời tạo ra những điều kiện thuận lợi hơn cho việc củng cố sức mạnh tổng hợp quốc gia nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới. Tuy nhiên, trong những năm tới,“đất nước ta sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, có những mặt gay gắt, nặng nề hơn so với giai đoạn trước. Phát triển kinh tế - xã hội chưa bền vững. Bốn nguy cơ mà Đảng chỉ ra đã từng bước được khắc phục, song có mặt còn diễn biến phức tạp. Nguy cơ bao trùm là nguy cơ tụt hậu, nhất là về công nghệ và rơi vào bẫy thu nhập trung bình”5. Đồng thời, những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp, tác động trực tiếp đến sự ổn định và phát triển của đất nước.

Đặc biệt,“công cuộc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, nhất là bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và các lợi ích quốc gia ở Biển Đông; bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ; bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia trên không gian mạng, an ninh nguồn nước còn nhiều thách thức”6. Điều đó cho thấy nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc ngày nay không chỉ giới hạn ở bảo vệ lãnh thổ, biên giới, biển đảo mà còn mở rộng sang các lĩnh vực an ninh phi truyền thống, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc trong môi trường số và không gian toàn cầu hóa.

Trong bối cảnh đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" tiếp tục khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đây không chỉ là chân lý của thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc mà còn là nguyên tắc nền tảng định hướng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới. Đảng ta khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương. Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố, nguy cơ gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị”7.

Độc lập dân tộc hiện nay không chỉ xác định trong biên giới quốc gia, mà còn thể hiện thông qua vai trò, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, trong việc hợp tác giải quyết các vấn đề có tính toàn cầu và đấu tranh, bảo vệ lợi ích của quốc gia, dân tộc bên ngoài biên giới lãnh thổ. Do đó, Đảng ta đổi mới mạnh mẽ tư duy đối ngoại với phương châm: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại; phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hoá và vị thế của đất nước. Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi. Chủ động, tích cực đóng góp vào hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững trên tinh thần là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; tham gia chủ động, có trách nhiệm vào việc giải quyết các vấn đề chung của khu vực và quốc tế.”8.

“Không có gì quý hơn độc lập, tự do” không chỉ là tư tưởng mà còn là lẽ sống, là một giá trị to lớn trong học thuyết cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là mục tiêu chiến đấu, là nguồn sức mạnh làm nên chiến thắng của Nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp vĩ đại đấu tranh vì độc lập, tự do, vì sự tồn tại và phát triển của dân tộc; đồng thời tư tưởng đó còn là nguồn cổ vũ, động viên to lớn đối với nhân loại tiến bộ, đặc biệt đối với các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới trong cuộc đấu tranh vì cuộc sống và hạnh phúc của mình.

Kỷ niệm 60 năm lời kêu gọi kháng chiến chống Mỹ, cứu nước “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta càng nhận rõ hơn tầm vóc, ý nghĩa và giá trị to lớn, xuyên suốt của nó trong tiến trình cách mạng Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là ngọn cờ tư tưởng, là nguồn động lực tinh thần to lớn “khơi dậy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc”9 để  “thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”10.

ThS. Trịnh Hồng Công

----------------

1 Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 15, Nxb. CTQG, H. 2011, tr.131.
2 Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 534.
3 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2026, tr.77.
4 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2026, tr.79.
5 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2026, tr.79-80.
6 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2026, tr.80.
7 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2021, tr.117.
8 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2026, tr. 117.
9 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2026, tr. 82.
10 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2026, tr. 84.
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây