“Địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm” - Bản chất khoa học và những luận điệu xuyên tạc cần bác bỏ hiện nay
- Thứ hai - 07/09/2026 11:39
- In ra
- Đóng cửa sổ này

Tuy nhiên, trong quá trình quán triệt, triển khai, đã xuất hiện những cách hiểu đơn giản, phiến diện và những luận điệu xuyên tạc làm sai lệch nội hàm của phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”. Do đó, cần làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, giá trị khoa học của phương châm; nhận diện, bác bỏ các quan điểm sai lệch, đồng thời đề xuất giải pháp để triển khai thực chất, hiệu quả trong thực tiễn hiện nay.
Bước phát triển trong tư duy tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước của Đảng trong kỷ nguyên mới
Trong toàn bộ tiến trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn chú trọng tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước theo hướng vừa bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, thống nhất, vừa phát huy tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các cấp, các ngành, địa phương, qua đó thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân. Bước vào thời kỳ đổi mới, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết, gắn với đổi mới đồng bộ tư duy kinh tế, tư duy quản lý, phương thức lãnh đạo, tổ chức bộ máy và quan hệ giữa Trung ương với địa phương, giữa Nhà nước với xã hội. Trong bối cảnh đó, phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm” phản ánh bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước, được hình thành trên cơ sở tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận về quản trị quốc gia hiện đại.
Nhìn lại tiến trình đổi mới, có thể thấy, quan điểm của Đảng về phân cấp, phân quyền được hình thành và phát triển gắn với yêu cầu tổ chức lại cơ chế quản lý nhà nước trong điều kiện chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ở giai đoạn đầu, khi thể chế chưa hoàn thiện và năng lực quản trị còn hạn chế, việc bảo đảm “quyền quyết định của trung ương (bao gồm cả các ngành trung ương) đối với những lĩnh vực then chốt, những vấn đề có ý nghĩa chiến lược”(2) như Văn kiện Đại hội VI (1986) xác định là cần thiết. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế và sự đa dạng của đời sống kinh tế - xã hội, cơ chế quản lý mang nặng tính tập trung dần bộc lộ hạn chế, nhất là làm chậm quá trình ra quyết định, hạn chế tính chủ động và trách nhiệm của địa phương. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, các văn kiện Đại hội VII, Đại hội VIII của Đảng đã nhấn mạnh yêu cầu “thống nhất quyền lực, có sự phân công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của trung ương”(3), khắc phục tình trạng bao biện, làm thay; từ đó, tư duy của Đảng từng bước chuyển từ phân công công việc sang phân định thẩm quyền, từ chỉ đạo hành chính sang đề cao tổ chức thực thi, gắn với kết quả và trách nhiệm cụ thể. Sự vận động này phản ánh logic phát triển nhất quán trong tư duy tổ chức quyền lực nhà nước từ ưu tiên tập trung, ổn định sang phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm, phát huy tính chủ động của địa phương đi đôi với tăng cường kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực. Đây là sự phát triển trên nền tảng kiên định nguyên tắc quyền lực nhà nước thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng, phù hợp hơn với yêu cầu phát triển và quản trị quốc gia trong giai đoạn mới.
Trong bối cảnh đó, việc xác lập phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm” xuất phát từ yêu cầu đổi mới quản trị quốc gia trong giai đoạn phát triển mới. Đại hội XIV nêu rõ yêu cầu xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, minh bạch, trách nhiệm giải trình cao; nhấn mạnh “Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền theo hướng tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương”(4), đồng thời yêu cầu “phân công, phân cấp, phân quyền bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả”(5). Những định hướng này cho thấy, đây là một nội dung trong chỉnh thể đổi mới phương thức quản trị phát triển quốc gia, nhằm bảo đảm sự vận hành thông suốt của bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi quyền lực nhà nước trong điều kiện mới.
Trên bình diện lý luận, phương châm này thể hiện bước phát triển trong nhận thức về tổ chức thực thi quyền lực nhà nước. Trong thời gian dài, ở không ít nơi còn tồn tại tình trạng cấp trên làm thay cấp dưới, địa phương chờ xin ý kiến đối với cả những vấn đề thuộc thẩm quyền, dẫn đến chậm quyết định, chậm tổ chức thực hiện và khó xác định trách nhiệm. Khi kết quả tích cực, công lao thường bị dàn trải; khi phát sinh hạn chế, trách nhiệm lại không được xác định rõ. Cách vận hành này không đáp ứng yêu cầu của quản trị hiện đại, vốn đòi hỏi thẩm quyền phải được xác định cụ thể, quy trình được rút gọn, chủ thể thực hiện rõ ràng và trách nhiệm có thể kiểm chứng. Theo đó, phương châm không chỉ dừng ở việc phân định thẩm quyền, mà còn xác lập sự thống nhất giữa quyền hạn, tổ chức thực hiện và trách nhiệm trong một chỉnh thể vận hành của quyền lực nhà nước.
Thực tiễn lịch sử cho thấy, nhiều bước đột phá trong phát triển được hình thành từ yêu cầu của thực tiễn và những tìm tòi, chủ động của cơ sở, địa phương. Thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo của đồng chí Kim Ngọc, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc, là một minh chứng tiêu biểu. Trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp trì trệ, cơ chế hợp tác hóa bộc lộ hạn chế, việc thực hiện khoán sản phẩm đến hộ nông dân đã gắn trực tiếp quyền lợi với trách nhiệm lao động, tạo chuyển biến rõ rệt về năng suất, được nhìn nhận như một biểu hiện sớm của tư duy đổi mới hình thành từ thực tiễn. Dù trong điều kiện lịch sử cụ thể, sáng kiến này gặp trở ngại trong quá trình triển khai, nhưng về sau được khẳng định giá trị, trở thành kinh nghiệm có ý nghĩa phương pháp luận về vai trò của tính chủ động địa phương và vị trí của thực tiễn trong quá trình hình thành, phát triển đường lối đổi mới.
Thực tiễn phát triển những năm qua tiếp tục cho thấy, khi thẩm quyền được xác định rõ và điều kiện thực hiện được bảo đảm, địa phương có điều kiện phát huy tốt hơn nguồn lực sẵn có, xử lý công việc kịp thời, sát thực tiễn; ngược lại, ở những nơi cơ chế còn ràng buộc bởi nhiều tầng nấc trung gian, thủ tục phức tạp, việc ra quyết định thường chậm, khó theo kịp yêu cầu phát triển. Từ những kinh nghiệm đó, tư duy của Đảng về phân cấp, phân quyền được bổ sung, phát triển theo yêu cầu nội tại của quá trình phát triển, phù hợp với bối cảnh quy mô nền kinh tế mở rộng, liên kết vùng gia tăng, chuyển đổi số diễn ra sâu rộng và đòi hỏi phản ứng chính sách nhanh, chính xác hơn. Đại hội XIV xác định rõ yêu cầu “chuyển từ mô hình quản lý hành chính sang mô hình kiến tạo phát triển, phục vụ nhân dân, thúc đẩy quản trị quốc gia, quản trị địa phương, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đề ra”(6).
Phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm” gắn trực tiếp với quá trình đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả trong thời gian qua. Đại hội XIV đánh giá: “Kết quả đổi mới, sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính vừa qua đã đạt được nhiều mục tiêu chiến lược, thực sự là cuộc cách mạng mang tính lịch sử”(7). Trên cơ sở đó, yêu cầu tiếp tục hoàn thiện mô hình chính quyền địa phương được đặt ra theo hướng phân định rõ thẩm quyền, giảm tầng nấc trung gian, bảo đảm sự vận hành thông suốt của hệ thống, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và tạo điều kiện để địa phương phát huy tính chủ động trong tổ chức thực hiện.
Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn đó, có thể làm rõ nội hàm của từng thành tố cấu thành trong phương châm:
“Địa phương quyết” được hiểu là địa phương có thẩm quyền quyết định những vấn đề thuộc phạm vi quản lý trên cơ sở pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các chuẩn mực chung của quốc gia. Quyền “quyết” gắn với khuôn khổ pháp lý xác định, không phải là sự tùy tiện trong lựa chọn. Khi thẩm quyền được quy định rõ ràng và minh bạch, địa phương có cơ sở để chủ động xử lý công việc; ngược lại, nếu thẩm quyền không rõ hoặc thiếu khuôn khổ pháp lý đầy đủ, việc thực hiện dễ rơi vào tình trạng né tránh hoặc tùy tiện.
“Địa phương làm” xác lập địa phương là chủ thể trực tiếp tổ chức thực hiện, chịu trách nhiệm chính. Địa phương phải xây dựng chương trình hành động, tổ chức bộ máy, huy động và phân bổ nguồn lực, phối hợp các chủ thể liên quan và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện. Đây là khâu phản ánh trực tiếp năng lực quản trị của chính quyền địa phương.
“Địa phương chịu trách nhiệm” là yêu cầu xuyên suốt. Quyền lực nhà nước phải gắn với trách nhiệm giải trình rõ ràng. Nếu quyền hạn được trao mà trách nhiệm không được xác định cụ thể, dễ dẫn đến trì trệ hoặc lạm quyền; ngược lại, nếu yêu cầu trách nhiệm nhưng không bảo đảm thẩm quyền tương ứng, việc thực hiện khó đạt hiệu quả. Vì vậy, phương châm này đòi hỏi sự thống nhất giữa thẩm quyền, tổ chức thực hiện và trách nhiệm, đồng thời gắn với cơ chế kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực chặt chẽ.
Nhìn rộng hơn, phương châm này là sự cụ thể hóa yêu cầu hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới. Nhà nước pháp quyền không chỉ đòi hỏi quyền lực được thực thi trong khuôn khổ pháp luật, mà còn phải được tổ chức hợp lý, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và hướng tới phục vụ nhân dân hiệu quả hơn.
Thực tiễn gần đây cho thấy rõ vai trò của việc thiết kế không gian thể chế phù hợp cho địa phương. Nghị quyết số 98/2023/QH15, ngày 24-6-2023, của Quốc hội, “Về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh” đã xác lập khuôn khổ cụ thể trên nhiều lĩnh vực, như quản lý đầu tư, tài chính - ngân sách, quản lý đô thị, tài nguyên, môi trường, thu hút nhà đầu tư chiến lược, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và tổ chức bộ máy của chính quyền thành phố và thành phố Thủ Đức. Nghị quyết số 136/2024/QH15, ngày 26-6-2024, của Quốc hội, “Về tổ chức chính quyền đô thị và thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Đà Nẵng” cũng thiết kế cơ chế thí điểm về tổ chức chính quyền đô thị và một số chính sách đặc thù phát triển. Gần đây, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 02-NQ/TW, ngày 17-3-2026, “Về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới”, tiếp tục định hướng hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm phát huy vai trò, vị thế của Thủ đô... Những thiết kế thể chế này phản ánh cách tiếp cận phân quyền có điều kiện, phù hợp với đặc điểm, vai trò và yêu cầu phát triển của từng địa bàn, qua đó tạo cơ sở để địa phương chủ động hơn trong quản lý và tổ chức thực hiện.
Cùng với đó, tháng 6-2025, Chính phủ ban hành đồng bộ 28 nghị định về phân quyền, phân cấp và phân định thẩm quyền giữa Chính phủ với chính quyền địa phương 2 cấp, bao quát hầu hết các lĩnh vực quản lý nhà nước, từ tư pháp, tài chính, thuế, tài sản công, nội vụ, thống kê, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo đến nông nghiệp, môi trường, khoa học - công nghệ, giáo dục, y tế, văn hóa, xây dựng, quy hoạch đô thị, công nghiệp, thương mại, đối ngoại, thanh tra và đất đai. Trong đó, có 11 nghị định về phân định thẩm quyền, 14 nghị định về phân cấp, phân quyền và 3 nghị định kết hợp cả hai nội dung(8). Sau gần một năm triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, hệ thống văn bản này đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để tổ chức lại mối quan hệ giữa Trung ương và địa phương theo hướng phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm và cơ chế thực thi. Quy mô, phạm vi điều chỉnh và tính đồng bộ của các nghị định cho thấy quá trình thể chế hóa quan điểm của Đảng về phân cấp, phân quyền đã chuyển từ định hướng chính trị sang tổ chức lại thực chất thẩm quyền quản lý nhà nước, gắn với yêu cầu phát huy tính chủ động, sáng tạo của địa phương, đồng thời bảo đảm sự thống nhất của nền hành chính quốc gia và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị trong điều kiện mới.
Có thể khẳng định, phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm” là bước phát triển quan trọng trong tư duy của Đảng về tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước trong kỷ nguyên mới. Phương châm này phản ánh nhận thức ngày càng đầy đủ hơn về cách thức vận hành quyền lực trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gắn với yêu cầu xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả. Trung ương tập trung vào tầm chiến lược, thể chế và kiểm soát quyền lực, bảo đảm định hướng và sự thống nhất của hệ thống; địa phương được xác định là chủ thể quản trị trên địa bàn, có thẩm quyền quyết định, trực tiếp tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về kết quả. Trong tổng thể, phương châm bảo đảm sự gắn kết giữa tập trung và phân quyền, giữa quyền hạn và trách nhiệm, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế để tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả.

Người dân thực hiện các thủ tục hành chính tại Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Hưng Hà, tỉnh Hưng Yên. Ảnh: TTXVN.
Nhận diện và bác bỏ những cách hiểu sai lệch, những luận điệu xuyên tạc về phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm” hiện nay
Đối với một chủ trương liên quan trực tiếp đến tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước, yêu cầu thống nhất nhận thức trong toàn hệ thống là điều kiện tiên quyết để bảo đảm triển khai đúng và hiệu quả. Thực tiễn cho thấy 2 vấn đề nổi lên: Một là, cách hiểu chưa đầy đủ, còn giản đơn, phiến diện, dẫn đến làm sai lệch nội hàm chủ trương; hai là, sự xuất hiện của các luận điệu xuyên tạc, cố tình bóp méo bản chất nhằm gây nhiễu thông tin, làm suy giảm niềm tin và cản trở quá trình thể chế hóa. Đối với phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, việc nhận diện và xử lý đồng thời 2 vấn đề này là yêu cầu cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
Thứ nhất, cần nhận diện và bác bỏ cách hiểu đồng nhất phương châm này với phân quyền tuyệt đối, thậm chí gắn với các khái niệm, như “phi tập trung hóa quyền lực”, “nhường quyền cho địa phương” hoặc “địa phương tự quyết theo ý mình”. Cách hiểu này không phù hợp với nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước ở Việt Nam, nơi quyền lực nhà nước là thống nhất trong một nhà nước đơn nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng; phân cấp, phân quyền nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức thực thi, không làm thay đổi nguyên tắc đó. Văn kiện Đại hội XIV đã xác định rõ “tăng cường kiểm soát quyền lực trong Đảng và Nhà nước”(9) là nhiệm vụ trọng tâm và đột phá chiến lược trong nhiệm kỳ mới, qua đó khẳng định phân quyền phải gắn chặt với kiểm tra, giám sát. Cần thấy rằng, phân quyền đúng nghĩa không đối lập với thống nhất quyền lực nhà nước, mà chính là điều kiện để quyền lực được tổ chức hợp lý và vận hành thông suốt: nếu dồn toàn bộ việc quyết định lên cấp trên, bộ máy dễ quá tải, phản ứng chậm; ngược lại, nếu trao quyền mà không xác lập đầy đủ khuôn khổ pháp lý, chiến lược và cơ chế kiểm soát, thì dễ dẫn đến tùy tiện trong tổ chức thực hiện.
Thứ hai, cần làm rõ và bác bỏ những nhận định phiến diện cho rằng, việc tăng thẩm quyền tất yếu dẫn tới cục bộ địa phương, mạnh ai nấy làm, làm suy yếu liên kết vùng và tính thống nhất quốc gia. Cách nhìn này không phản ánh đúng bản chất của vấn đề, bởi cục bộ địa phương không phải là hệ quả tất yếu của phân cấp, phân quyền, mà chỉ nảy sinh khi thể chế thiếu đồng bộ, quy hoạch thiếu thống nhất, cơ chế giám sát và trách nhiệm giải trình không rõ ràng. Khi Trung ương thực hiện tốt vai trò xây dựng chiến lược, quy hoạch, tiêu chuẩn, điều tiết và kiểm tra, giám sát; đồng thời địa phương thực hiện đúng thẩm quyền trong khuôn khổ đó, thì tính chủ động của địa phương không làm phân tán hệ thống, mà tạo điều kiện khai thác hiệu quả lợi thế của từng địa bàn, tăng cường liên kết và bổ trợ cho phát triển chung. Thực tiễn thí điểm các cơ chế đặc thù đối với Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng cho thấy, việc trao quyền luôn gắn với khuôn khổ pháp luật chung, được xác định rõ về phạm vi, lĩnh vực và điều kiện áp dụng, qua đó vừa phát huy tính chủ động, vừa bảo đảm sự thống nhất của hệ thống quản lý nhà nước.
Thứ ba, cần phân biệt rạch ròi giữa bản chất của chủ trương với những khó khăn, lúng túng trong quá trình tổ chức thực hiện, tránh quy kết “không khả thi”, “chỉ tồn tại trên giấy” hoặc “sớm muộn cũng quay lại cơ chế xin - cho”. Bất kỳ cải cách thể chế nào cũng có độ trễ và cần một giai đoạn chuyển tiếp; khi thẩm quyền được sắp xếp lại, mô hình tổ chức được điều chỉnh, yêu cầu về năng lực thực thi tăng lên, việc phát sinh những vướng mắc ban đầu là khó tránh. Thực tiễn cũng cho thấy ở một số nơi, trong một số thời điểm còn có lúng túng cần tiếp tục hoàn thiện. Tuy nhiên, những hạn chế đó đặt ra yêu cầu phải tiếp tục cụ thể hóa thể chế, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện và siết chặt kỷ luật, kỷ cương, chứ không phải là căn cứ để phủ nhận chủ trương hoặc quay lại cơ chế quản lý đã bộc lộ bất cập. Văn kiện Đại hội XIV đã chỉ rõ tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ cấp cao “thiếu tu dưỡng, rèn luyện, không gương mẫu, có biểu hiện đùn đẩy, né tránh, không dám làm, không dám đổi mới sáng tạo”(10); đồng thời, khẳng định yêu cầu “bảo vệ người đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”(11). Điều này cho thấy, vấn đề cốt lõi không nằm ở chủ trương, mà ở chất lượng thực thi và sự hoàn thiện của cơ chế bảo đảm.
Thứ tư, cần khắc phục cách tiếp cận thu hẹp phương châm này vào phạm vi một giải pháp kỹ thuật hành chính nhằm giảm tải cho Trung ương, qua đó làm mờ đi chiều sâu lý luận và ý nghĩa thể chế của vấn đề. Thực chất, phương châm này gắn với yêu cầu hoàn thiện đồng bộ các trụ cột nền tảng của mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam mà Đại hội XIV nhấn mạnh: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; nền dân chủ xã hội chủ nghĩa”(12). Trong chỉnh thể đó, tổ chức quyền lực nhà nước không dừng ở phân công công việc theo cấp hành chính, mà đòi hỏi thiết lập cơ chế vận hành minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và hướng tới hiệu quả phục vụ nhân dân; vì vậy, phương châm này thực chất là một định hướng sắp xếp lại cách thức tổ chức và thực thi quyền lực phù hợp với yêu cầu quản trị quốc gia trong giai đoạn mới.
Thứ năm, cần nhận thức đúng mối quan hệ giữa việc phân định, tăng cường thẩm quyền cho địa phương với vai trò lãnh đạo, quản lý thống nhất của Trung ương, tránh cách hiểu đối lập hoặc triệt tiêu lẫn nhau. Khi địa phương được trao quyền quyết định và trực tiếp tổ chức thực hiện nhiều hơn trong khuôn khổ pháp luật, vai trò của Trung ương không giảm mà được định vị rõ hơn ở tầm chiến lược và thể chế: xây dựng đường lối, hoàn thiện pháp luật, lập quy hoạch tổng thể, bảo đảm liên kết vùng, phân bổ nguồn lực lớn, đồng thời tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực. Như vậy, phân quyền không phải là sự “rút lui” của Trung ương, mà là sự tái cấu trúc chức năng theo hướng mỗi cấp thực hiện đúng phần việc của mình và chịu trách nhiệm đến cùng về kết quả, qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả của toàn bộ hệ thống quản trị.
Thứ sáu, cần nhìn nhận vấn đề chênh lệch năng lực giữa các địa phương trong mối quan hệ với yêu cầu phát triển năng lực quản trị, tránh xu hướng vì lo ngại hạn chế mà thu hẹp hoặc trì hoãn việc mở rộng thẩm quyền, làm suy giảm động lực phát triển từ thực tiễn. Nếu không gắn trao quyền với tổ chức thực hiện, năng lực khó có điều kiện hình thành và tích lũy; trách nhiệm cũng không thể xác lập rõ nếu thẩm quyền không được phân định cụ thể. Vì vậy, vấn đề không phải là có phân cấp, phân quyền hay không, mà là thiết kế lộ trình phù hợp với điều kiện và trình độ phát triển của từng địa phương, đồng thời tăng cường đào tạo, hỗ trợ, kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực, qua đó vừa thúc đẩy tính chủ động, vừa bảo đảm kỷ cương và sự vận hành thống nhất của hệ thống.
Những cách hiểu sai và luận điệu xuyên tạc nêu trên tác động trực tiếp đến nhận thức về một chủ trương có ý nghĩa chiến lược, qua đó ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình thể chế hóa và tổ chức thực hiện. Nếu cán bộ không hiểu đúng, dễ nảy sinh tâm lý né tránh, ngại quyết định, ngại chịu trách nhiệm; nếu xã hội không hiểu đúng, dễ phát sinh hoài nghi hoặc đánh giá chủ trương qua những biểu hiện cá biệt; nếu trong bộ máy thiếu sự thống nhất nhận thức, rất dễ quay lại lối vận hành xin - cho, làm suy giảm hiệu lực của chủ trương ngay từ khâu triển khai. Vì vậy, việc bác bỏ các cách hiểu sai lệch phải gắn chặt với việc làm rõ nội dung và ý nghĩa của phương châm, trong đó cốt lõi là tổ chức thực thi quyền lực nhà nước theo hướng xác định rõ thẩm quyền, gắn chặt với trách nhiệm và kết quả, bảo đảm tính thống nhất của quyền lực nhà nước đồng thời phát huy tính chủ động của địa phương trong khuôn khổ pháp luật và dưới sự lãnh đạo của Đảng; khi nhận thức được thống nhất trên cơ sở đó, các luận điệu xuyên tạc sẽ không còn cơ sở tồn tại.
Giải pháp để phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm” đi vào thực chất trong giai đoạn hiện nay
Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm giữa Trung ương với địa phương, giữa các cấp chính quyền và giữa cơ quan quyết định với cơ quan tổ chức thực hiện. Đây là khâu có tính nền tảng, bởi mọi cải cách về phân cấp, phân quyền chỉ có thể vận hành hiệu quả khi hệ thống pháp luật xác lập được ranh giới thẩm quyền rõ ràng và cơ chế trách nhiệm minh bạch. Thực tiễn cho thấy, tình trạng chồng lấn, khoảng trống hoặc không xác định rõ chủ thể chịu trách nhiệm chính là nguyên nhân trực tiếp làm giảm hiệu quả thực thi. Việc ban hành 28 nghị định năm 2025 là bước tiến quan trọng, nhưng cần tiếp tục được nối tiếp bằng quá trình rà soát, sửa đổi các luật chuyên ngành, bảo đảm sự thống nhất của hệ thống pháp luật về phân cấp, phân quyền, trách nhiệm giải trình và cơ chế kiểm soát quyền lực.
Hai là, phải thống nhất nhận thức trong toàn hệ thống về nội hàm của phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, gắn với đổi mới phương thức quản trị. Phân quyền không phải là sự “giảm vai trò” của Trung ương hay “tăng quyền tùy ý” cho địa phương, mà là sự phân định hợp lý để mỗi cấp thực hiện đúng chức năng của mình. Trung ương tập trung vào xây dựng thể chế, chiến lược, quy hoạch, tiêu chuẩn và kiểm tra, giám sát; địa phương chủ động tổ chức thực hiện, xử lý công việc thuộc thẩm quyền và chịu trách nhiệm về kết quả. Khi thẩm quyền, trách nhiệm và cơ chế kiểm soát được xác lập đồng bộ, hệ thống mới vận hành thông suốt. Đây cũng là yêu cầu cốt lõi mà Đại hội XIV đặt ra khi nhấn mạnh đổi mới quản trị theo hướng hiện đại, minh bạch và trách nhiệm giải trình cao, lấy hạnh phúc và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo.
Ba là, cần nâng cao năng lực quản trị của chính quyền địa phương gắn với chuyển đổi số và đổi mới phương thức điều hành. Việc mở rộng thẩm quyền tất yếu kéo theo yêu cầu cao hơn về năng lực pháp lý, năng lực tổ chức thực hiện và năng lực ra quyết định dựa trên dữ liệu. “Địa phương quyết” đòi hỏi xác định đúng phạm vi thẩm quyền; “địa phương làm” đòi hỏi bộ máy vận hành hiệu quả, phối hợp liên ngành và sử dụng nguồn lực hợp lý; “địa phương chịu trách nhiệm” đòi hỏi hệ thống theo dõi, đánh giá dựa trên dữ liệu và tiêu chí rõ ràng. Trong bối cảnh chuyển đổi số, việc hiện đại hóa quản trị không chỉ là yêu cầu kỹ thuật, mà là điều kiện để nâng cao chất lượng quyết định và trách nhiệm giải trình, phù hợp với định hướng của Đại hội XIV về phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Bốn là, phải thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực đồng bộ, gắn với đổi mới đánh giá và siết chặt kỷ luật thực thi. Trao quyền chỉ phát huy hiệu quả khi đi liền với kiểm soát quyền lực phù hợp. Kiểm soát không phải là duy trì quy trình phê duyệt nhiều tầng nấc, mà là hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, tăng cường minh bạch, phát huy giám sát của các cơ quan và xã hội, đồng thời xác lập rõ trách nhiệm và chế tài. Cùng với đó, cần đổi mới cơ chế đánh giá theo hướng lấy hiệu quả phục vụ nhân dân và doanh nghiệp làm thước đo, thay cho cách đánh giá nặng về thủ tục, quy trình. Đặc biệt, phải xử lý dứt điểm tình trạng né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm - điểm nghẽn trực tiếp làm vô hiệu hóa thẩm quyền đã được giao. Việc thực hiện đồng bộ yêu cầu “kiên quyết xử lý trì trệ, né tránh, đùn đẩy” và “bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung” có ý nghĩa quyết định trong việc hình thành động lực hành động của bộ máy.
Năm là, cần gắn việc triển khai phương châm với tổng kết thực tiễn theo từng lĩnh vực và phát huy các cơ chế thí điểm như công cụ hoàn thiện thể chế. Phân cấp, phân quyền không thể dừng ở mức nguyên tắc chung, mà phải được cụ thể hóa trong từng lĩnh vực quản lý như đầu tư công, đất đai, xây dựng, giáo dục, y tế, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số… Trên cơ sở đó, cần đánh giá sát thực tiễn để xác định nội dung nào phù hợp, nội dung nào còn vướng, khâu nào cần tăng giám sát, khâu nào cần nâng cao năng lực. Đồng thời, việc triển khai các cơ chế đặc thù đối với Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hà Nội cho thấy cách tiếp cận “thí điểm có kiểm soát” là phù hợp, vừa tạo không gian đổi mới, vừa cung cấp cơ sở thực tiễn để hoàn thiện pháp luật và cơ chế chung.
Sáu là, phải tăng cường công tác tư tưởng, tuyên truyền và định hướng nhận thức, đặt trong chỉnh thể xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hoàn thiện nền quản trị quốc gia hiện đại. Đối với một chủ trương liên quan trực tiếp đến tổ chức quyền lực nhà nước, nếu nhận thức không thống nhất sẽ dẫn đến lệch lạc trong thực hiện hoặc bị lợi dụng để xuyên tạc. Cần làm rõ các vấn đề cốt lõi: yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới; sự khác biệt so với cách làm cũ; vai trò của Trung ương; phạm vi thẩm quyền của địa phương; cơ chế kiểm soát quyền lực và tiêu chí đánh giá kết quả. Khi đặt phương châm trong tổng thể đổi mới phương thức quản trị quốc gia, gắn với tinh gọn bộ máy, nâng cao minh bạch và trách nhiệm giải trình, sẽ thấy rõ đây là một mắt xích quan trọng trong sự phát triển tư duy thể chế của Đảng.
Lại Huy Liệu - các cộng sự
Đại tá, Cục Cán bộ, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam
N.H theo https://www.tapchicongsan.org.vn
------------------
(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. I, tr. 128
(2) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t. 47, tr. 400
(3) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 51, tr. 145 - 146
(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr.127 - 128
(5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 75
(6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 63
(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 71
(8) Xem: “Toàn văn 28 Nghị định về phân quyền, phân cấp; phân định thẩm quyền giữa Chính phủ và chính quyền địa phương 2 cấp”, Báo Điện tử Chính phủ, ngày 14-6-2025, https://baochinhphu.vn/toan-van-28-nghi-dinh-ve-phan-quyen-phan-cap-phan-dinh-tham-quyen-giua-chinh-phu-va-chinh-quyen-dia-phuong-2-cap-102250613104134297.htm
(9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 144
(10) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 68
(11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 141 - 142
(12) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 76